Học phân tích thị trường từ Stockcharts (Bài 286): Fibonacci quạt (phần iv)

Học phân tích thị trường từ Stockcharts (Bài 286): Fibonacci quạt (phần iv)

Học phân tích thị trường từ Stockcharts (Bài 286): Fibonacci quạt (phần iv)

Mạc An

Junior Mod
Thành viên BQT
Trial mod
19,509
89,225
Thread cover
data/assets/threadprofilecover/bobvolman-2025-12-10T112848-1765340935.222-1765340935.png
Chủ đề liên quan
88250,86120,85122
Tóm tắt bài trước:
  • Đường Fibonacci Fan (Fibonacci quạt) là đường quạt dựa trên các điểm thoái lui Fibonacci. Đường Fibonacci Fan tăng kéo dài từ đáy và đi qua mức thoái lui. Các đường Fibonacci Fan này sau đó có thể ước tính các mức hỗ trợ hoặc vùng đảo chiều tiềm năng. Bài viết này sẽ giải thích về tỷ lệ Fibonacci và cung cấp các ví dụ về Fibonacci Fan để dự đoán mức hỗ trợ và kháng cự.
  • Leonardo Pisano Bogollo (1170-1250), một nhà toán học người Ý đến từ Pisa, được cho là người đã giới thiệu dãy số Fibonacci. Dãy số này như sau: 0, 1, 1, 2, 3, 5, 8, 13, 21, 34, 55, 89, 144, 233, 377, 610…… Dãy số này kéo dài đến vô cực và chứa đựng nhiều tính chất toán học độc đáo. Sau 0 và 1, mỗi số bằng tổng của hai số đứng trước nó (1 + 2 = 3, 2 + 3 = 5, 3 + 5 = 8, 5 + 8 = 13, 8 + 13 = 21, v.v.). Một số chia cho số liền trước đều xấp xỉ 1,618 (21/13 = 1,6153, 34/21 = 1,6190, 55/34 = 1,6176, 89/55 = 1,6181). Giá trị xấp xỉ này tiến gần đến 1,6180 khi các số trong chuỗi tăng dần lên. Một số chia cho số liền sau cao hơn xấp xỉ bằng 0,6180 (13/21 = 0,6190, 21/34 = 0,6176, 34/55 = 0,6181, 55/89 = 0,6179, v.v...). Giá trị xấp xỉ này tiến gần đến 0,6180 khi các số trong chuỗi tăng lên. Đây là cơ sở cho mức thoái lui 61,8%. Chia một số cho một số cao hơn hai chữ số nữa sẽ xấp xỉ bằng 0,3820 (13/34 = 0,382, 21/55 = 0,3818, 34/89 = 0,3820, 55/144 = 0,3819, v.v...). Giá trị xấp xỉ này tiến gần đến 0,3820 khi các số trong chuỗi tăng lên. Đây là cơ sở cho mức thoái lui 38,2%. Chia một số cho một số cao hơn ba chữ số nữa sẽ xấp xỉ bằng 0,2360 (13/55 = 0,2363, 21/89 = 0,2359, 34/144 = 0,2361, 55/233 = 0,2361, v.v...). Giá trị xấp xỉ này tiến gần đến 0,2360 khi các số trong chuỗi tăng lên. Đây là cơ sở cho mức thoái lui 23,6%. 1,618 ám chỉ Tỷ lệ Vàng hay mức Trung bình Vàng, còn được gọi là Phi. Nghịch đảo của 1,618 là 0,618. Những tỷ lệ này có thể được tìm thấy trong tự nhiên, kiến trúc, nghệ thuật và sinh học. Trong cuốn sách "Nguyên lý Sóng Elliott", Robert Prechter đã trích dẫn câu nói của William Hoffer từ tạp chí Smithsonian số tháng 12 năm 1975: "….tỷ lệ 0,618034 trên 1 là cơ sở toán học cho hình dạng của các lá bài tây và đền Parthenon, hoa hướng dương và vỏ ốc sên, bình hoa Hy Lạp và các thiên hà xoắn ốc ngoài vũ trụ. Người Hy Lạp đã xây dựng phần lớn nghệ thuật và kiến trúc của họ dựa trên tỷ lệ này. Họ gọi nó là Tỷ lệ Vàng hay mức Trung bình Vàng".
  • Cách vẽ và tính toán Fibonacci Quạt tăng: Đường Quạt 1: Đáy đến mức thoái lui 38,2%; Đường Quạt 2: Đáy đến mức thoái lui 50%; Đường Quạt 3: Đáy đến mức thoái lui 61,8%.
  • Fibonacci Quạt Giảm: Đường Fan 1: Đỉnh đến mức thoái lui 38,2%; Đường Fan 2: Đỉnh đến mức thoái lui 50%; Đường Fan 3: Đỉnh đến mức thoái lui 61,8%.
  • Sau một đợt tăng giá, các đường Fibonacci Fan có thể được vẽ để xác định các vùng hỗ trợ hoặc đảo chiều tiềm năng. Khi một đợt thoái lui bắt đầu, các đường Fibonacci Fan cung cấp cho người phân tích biểu đồ các mức quan trọng để theo dõi khi giá điều chỉnh. Sau một đợt giảm giá, các đường Fibonacci Fan có thể được vẽ để xác định các vùng kháng cự hoặc đảo chiều tiềm năng. Khi một đợt hồi bắt đầu, các đường Fibonacci Fan cung cấp cho người phân tích biểu đồ các mức quan trọng để theo dõi khi giá bật lại. Giống như các đường xu hướng thông thường, các vùng hỗ trợ hoặc kháng cự mở rộng khi các đường Fibonacci Fan mở rộng, điều này làm cho chúng trở nên "năng động" chứ không "tĩnh lặng".

Biểu đồ Log so với Biểu đồ Số học


Bạn đang phân vân nên sử dụng thang đo logarit hay thang đo số học trên biểu đồ của mình? Sau đây là những điểm khác biệt chính:

Lựa chọn thang đo có thể thay đổi độ dốc của các đường Fibonacci Fan và thay đổi các mức hỗ trợ, kháng cự và đảo chiều tiềm năng.

Thang đo logarit coi sự thay đổi giá là các biến động phần trăm. Ví dụ: biến động 10% từ 6 đô la (0,60 đô la) trông giống như biến động 10% từ 60 đô la (sáu điểm).

Thang đo số học tập trung vào sự thay đổi tuyệt đối. Biến động 1 đô la từ 6 lên 7 đô la (+16,66%) trông giống như biến động 1 đô la từ 12 lên 13 đô la (+8,33%), mặc dù sự thay đổi phần trăm là gấp đôi. Trên thang đo logarit, mức tăng 16,66% sẽ lớn gấp đôi mức tăng 8,33%.

Các biểu đồ dưới đây của Alcoa, Inc. (AA) so sánh thang đo số học và thang đo logarit. Biểu đồ đầu tiên sử dụng thang đo số học. Lưới giá được cách đều nhau. Khoảng cách từ 6 đến 7 đô la bằng khoảng cách từ 12 đến 13 đô la.

Biểu đồ thứ hai cho thấy Alcoa sử dụng thang đo logarit. Lưới giá ở phía dưới dài hơn ở phía trên. Lưu ý rằng khoảng cách từ 6 đến 7 đô la gấp đôi khoảng cách từ 12 đến 13 đô la.

1765340756880.png

1765340761853.png


Phương pháp thang đo logarit thường được ưa chuộng trong các khoảng thời gian dài hơn để mô tả chính xác các biến động giá lớn. Alcoa đã tăng từ khoảng 5 đô la lên 12 đô la trong vòng chưa đầy bốn tháng. Biến động này có vẻ mạnh trên thang đo logarit vì tỷ lệ phần trăm biến động từ các mức thấp là lớn. Biến động này trông ít dốc hơn trên thang đo số học vì mức thay đổi tuyệt đối từ các mức thấp là như nhau.

Sự khác biệt về thang đo không làm thay đổi điểm bắt đầu của các đường Fibonacci Fan hoặc các mức thoái lui. Các đường ngang màu hồng cho thấy sự bằng nhau của các mức thoái lui. Tuy nhiên, do phương pháp thang đo, các đường Fibonacci Fan trên biểu đồ logarit dốc hơn và Alcoa đã phá vỡ đường 50% vào giữa tháng 4. Các đường Fibonacci Fan trên biểu đồ số học ít dốc hơn, và Alcoa đã phá vỡ đường 50% vào đầu tháng 5.

Vậy, bạn nên sử dụng thang đo nào? Không có câu trả lời đúng hay sai. Phương pháp số học so với phương pháp logarit đã là một cuộc tranh luận sôi nổi trong nhiều năm. Vấn đề này phụ thuộc vào sở thích cá nhân. Phương pháp mở rộng không tạo ra nhiều khác biệt với những biến động giá tương đối nhỏ trong thời gian ngắn. Tuy nhiên, có một sự khác biệt rõ ràng với những biến động giá lớn trong thời gian dài hơn. Phương pháp logarit thường được ưu tiên cho các biểu đồ dài hạn.

Nguồn: Stockcharts​

 
 

Giới thiệu sách Trading hay
Mô Hình Biểu Đồ - Phương Pháp Hiệu Quả Để Tìm Kiếm Lợi Nhuận

Được xem là cẩm nang về mô hình biểu đồ của các nhà đầu tư, giao dich tài chính toàn cầu và là kiến thức bắt buộc phải nắm về Phân Tích Kỹ Thuật

BÌNH LUẬN MỚI NHẤT

AdBlock Detected

We get it, advertisements are annoying!

Sure, ad-blocking software does a great job at blocking ads, but it also blocks useful features of our website. For the best site experience please disable your AdBlocker.

Back
Bên trên

Miễn trừ trách nhiệm

Tất cả nội dung trên website này đều vì mục đích cung cấp thông tin và không phải lời khuyên đầu tư.

Tại Việt Nam, giao dịch CFD forex có các rủi ro nhất định, trong đó bao gồm rủi ro về pháp lý. Độc giả nên tìm hiểu kỹ trước khi đưa ra quyết định tham gia.