Học phân tích thị trường từ Stockcharts (Bài 370): Chỉ số định hướng trung bình ADX (phần iv)

Học phân tích thị trường từ Stockcharts (Bài 370): Chỉ số định hướng trung bình ADX (phần iv)

Học phân tích thị trường từ Stockcharts (Bài 370): Chỉ số định hướng trung bình ADX (phần iv)

Mạc An

Junior Mod
Thành viên BQT
Trial mod
19,476
89,145
Thread cover
data/assets/threadprofilecover/bobvolman-2026-03-04T115714-1772600241.277-1772600241.png
Chủ đề liên quan
76488,68570,87684,87652
Tóm tắt bài trước:
  • Chỉ số định hướng trung bình ( ADX), chỉ báo định hướng âm (-DI) và chỉ báo định hướng dương (+DI) đại diện cho một nhóm các chỉ báo chuyển động định hướng tạo thành một hệ thống giao dịch được phát triển bởi Welles Wilder. Mặc dù Wilder thiết kế Hệ thống Chuyển động Định hướng của mình để sử dụng cho thị trường hàng hóa, nhưng các chỉ báo này cũng có thể được áp dụng cho thị trường cổ phiếu cũng như các thị trường khác. Chuyển động định hướng tích cực và tiêu cực tạo thành xương sống của Hệ thống Chuyển động Định hướng. Wilder xác định chuyển động định hướng bằng cách so sánh chênh lệch giữa hai mức thấp liên tiếp với sự khác biệt giữa các mức cao tương ứng của chúng. Chỉ báo định hướng dương (+DI) và chỉ báo định hướng âm (-DI) được suy ra từ các giá trị trung bình được làm mịn của những sự chênh lệch này và đo lường xu hướng theo thời gian. Hai chỉ báo này thường được gọi chung là Chỉ báo Chuyển động Định hướng (DMI). Chỉ số định hướng trung bình ( ADX) lại được suy ra từ các giá trị trung bình được làm mịn của sự chênh lệch giữa +DI và -DI; nó đo lường sức mạnh của xu hướng (bất kể hướng nào) theo thời gian. Bằng cách sử dụng ba chỉ báo này cùng nhau, các nhà phân tích biểu đồ có thể xác định hướng và sức mạnh của xu hướng. Wilder đã giới thiệu các chỉ báo Chuyển động Định hướng trong cuốn sách năm 1978 của ông, "Những Khái niệm Mới trong Hệ thống Giao dịch sử dụng Phân tích Kỹ thuật". Cuốn sách này cũng bao gồm chi tiết về Chỉ số Phạm vi Thực Trung bình (ATR), hệ thống Parabolic SAR và Chỉ số Sức mạnh Tương đối (RSI). Mặc dù được phát triển trước thời đại máy tính, các chỉ báo của Wilder cực kỳ chi tiết trong cách tính toán và đã được kiểm chứng qua thời gian.
  • Chuyển động định hướng được tính bằng cách so sánh sự khác biệt giữa hai mức thấp liên tiếp với sự khác biệt giữa các mức cao tương ứng của chúng. Chuyển động định hướng là dương (plus) khi mức cao hiện tại trừ đi mức cao trước đó lớn hơn mức thấp trước đó trừ đi mức thấp hiện tại. Cái gọi là Chuyển động Định hướng Dương (+DM) này sau đó bằng mức cao hiện tại trừ đi mức cao trước đó, với điều kiện nó là dương. Giá trị âm sẽ được nhập là 0. Chuyển động định hướng là âm (minus) khi mức thấp trước đó trừ đi mức thấp hiện tại lớn hơn mức cao hiện tại trừ đi mức cao trước đó. Chỉ số chuyển động theo hướng âm (-DM) bằng mức thấp trước đó trừ đi mức thấp hiện tại, với điều kiện giá trị này dương. Giá trị âm sẽ được nhập là 0.
  • Các bước tính toán cho ADX, Chỉ báo định hướng dương (+DI) và Chỉ báo định hướng âm (-DI) dựa trên các giá trị Chuyển động định hướng dương (+DM) và Chuyển động định hướng âm (-DM) đã được nhắc đến trong bài trước, cũng như Khoảng biến động thực trung bình (Average True Range) đã được nói đến trong bài trước. Các phiên bản được làm mịn của +DM và -DM được chia cho phiên bản được làm mịn của Khoảng biến động thực trung bình để phản ánh biên độ thực của chuyển động. Ví dụ tính toán bên dưới dựa trên cài đặt chỉ báo 14 kỳ, theo khuyến nghị của Wilder:
    Bước 1: Tính toán Khoảng biến động thực (TR), Chuyển động định hướng dương (+DM) và Chuyển động định hướng âm (-DM) cho mỗi kỳ.
    Bước 2: Làm mịn các giá trị định kỳ này bằng kỹ thuật làm mịn của Wilder. Các kỹ thuật này được giải thích chi tiết trong phần tiếp theo.
    Bước 3: Chia Chuyển động định hướng dương (+DM) được làm mịn trong 14 ngày cho phạm vi biến động thực tế (True Range) được làm mịn trong 14 ngày để tìm chỉ báo định hướng dương (+DI14) trong 14 ngày. Nhân với 100 để dịch chuyển dấu thập phân hai vị trí. +DI14 này là đường chỉ báo định hướng dương (+DI) màu xanh lá cây được vẽ cùng với đường ADX.
    Bước 4: Chia Chuyển động định hướng âm (-DM) được làm mịn trong 14 ngày cho phạm vi biến động thực tế (True Range) được làm mịn trong 14 ngày để tìm chỉ báo định hướng âm (-DI14) trong 14 ngày. Nhân với 100 để dịch chuyển dấu thập phân hai vị trí. -DI14 này là đường chỉ báo định hướng tiêu âm (-DI) màu đỏ được vẽ cùng với đường ADX.
    Bước 5: Chỉ số chuyển động theo hướng (DX) bằng giá trị tuyệt đối của +DI14 trừ đi -DI14 chia cho tổng của +DI14 và -DI14. Nhân kết quả với 100 để dịch chuyển dấu thập phân hai vị trí.
    Bước 6: Sau tất cả các bước này, đã đến lúc tính toán đường Chỉ số Định hướng Trung bình ( ADX). Giá trị ADX đầu tiên chỉ đơn giản là giá trị trung bình 14 ngày của DX. Các giá trị ADX tiếp theo được làm mịn bằng cách nhân giá trị ADX 14 ngày trước đó với 13, cộng với giá trị DX gần nhất và chia tổng này cho 14.
  • Điều quan trọng là phải hiểu tác động của tất cả các kỹ thuật làm mịn liên quan đến các phép tính ADX, +DI và -DI. Do các kỹ thuật làm mịn của Wilder, có thể cần khoảng 150 kỳ dữ liệu để có được giá trị ADX thực sự. Wilder sử dụng các kỹ thuật làm mịn tương tự với các phép tính RSI và Average True Range của ông. Giá trị ADX chỉ sử dụng 30 kỳ dữ liệu lịch sử sẽ không khớp với giá trị ADX sử dụng 150 kỳ dữ liệu lịch sử. Giá trị ADX với 150 ngày dữ liệu trở lên sẽ vẫn nhất quán. Kỹ thuật đầu tiên được sử dụng để làm mịn các giá trị +DM1, -DM1 và TR1 của mỗi kỳ trong 14 kỳ. Cũng như với trung bình động hàm mũ, phép tính phải bắt đầu từ đâu đó, vì vậy giá trị đầu tiên chỉ đơn giản là tổng của 14 kỳ đầu tiên. Như hình dưới đây, quá trình làm mịn bắt đầu với phép tính 14 kỳ thứ hai và tiếp tục cho đến hết.
    TR14 đầu tiên = Tổng của 14 kỳ đầu tiên của TR1
    TR14 thứ hai = TR14 đầu tiên - (TR14 đầu tiên/14) + TR1 hiện tại
    Các giá trị tiếp theo = TR14 trước đó - (TR14 trước đó/14) + TR1 hiện tại
    Kỹ thuật thứ hai được sử dụng để làm mịn giá trị DX của mỗi kỳ để hoàn thành với Chỉ số Định hướng Trung bình ( ADX). Đầu tiên, tính trung bình cho 14 ngày đầu tiên làm điểm bắt đầu. Các phép tính thứ hai và tiếp theo sử dụng kỹ thuật làm mịn dưới đây:
    ADX14 đầu tiên = Trung bình 14 kỳ của DX
    ADX14 thứ hai = ((ADX14 đầu tiên x 13) + Giá trị DX hiện tại)/14
    ADX14 tiếp theo = ((ADX14 trước đó x 13) + Giá trị DX hiện tại)/14
  • Chỉ số Định hướng Trung bình ( ADX) được sử dụng để đo lường sức mạnh hoặc sự suy yếu của một xu hướng, chứ không phải hướng thực tế. Chuyển động theo hướng được xác định bởi +DI và -DI. Nói chung, phe mua có lợi thế khi +DI lớn hơn -DI, trong khi phe bán có lợi thế khi -DI lớn hơn. Sự giao cắt của các chỉ báo hướng này có thể được kết hợp với ADX để tạo thành một hệ thống giao dịch hoàn chỉnh.
  • Ở mức cơ bản nhất, Chỉ số hướng trung bình ( ADX) có thể được sử dụng để xác định xem một chứng khoán có đang theo xu hướng hay không. Việc xác định này giúp các nhà giao dịch lựa chọn giữa hệ thống theo xu hướng hoặc hệ thống không theo xu hướng. Wilder cho rằng xu hướng mạnh xuất hiện khi ADX trên 25 và không có xu hướng nào khi ADX dưới 20. Có vẻ như có một vùng xám giữa 20 và 25. Như đã đề cập ở trên, các nhà phân tích biểu đồ có thể cần điều chỉnh cài đặt để tăng độ nhạy và tín hiệu. ADX cũng có độ trễ đáng kể do tất cả các kỹ thuật làm mịn. Nhiều nhà phân tích kỹ thuật sử dụng 20 làm mức quan trọng cho ADX.

Xu hướng và các điểm giao cắt


Wilder đã đưa ra một hệ thống đơn giản để giao dịch với các chỉ báo chuyển động theo hướng này. Yêu cầu đầu tiên là chỉ báo ADX phải giao dịch trên mức 25. Điều này đảm bảo rằng giá đang có xu hướng. Tuy nhiên, nhiều nhà giao dịch sử dụng mức 20 làm mức quan trọng. Tín hiệu mua xuất hiện khi +DI vượt lên trên -DI. Wilder đặt điểm dừng lỗ ban đầu dựa trên mức thấp nhất trong ngày xuất hiện tín hiệu. Tín hiệu vẫn có hiệu lực miễn là mức thấp này được giữ vững, ngay cả khi +DI vượt xuống dưới -DI và cho đến khi mức thấp này bị phá vỡ thì tín hiệu mới bị phủ nhận. Tín hiệu tăng giá này được củng cố nếu/khi ADX tăng lên và xu hướng mạnh lên. Khi xu hướng phát triển và chúng ta có lợi nhuận, các nhà giao dịch sẽ phải kết hợp thêm điểm dừng lỗ theo sau nếu xu hướng tiếp tục.

Tương tự, tín hiệu bán được kích hoạt khi -DI vượt lên trên +DI. Mức cao nhất trong ngày xuất hiện tín hiệu bán trở thành điểm dừng lỗ ban đầu.

1772599895528.png

Biểu đồ trên cho thấy cổ phiếu Medco Health Solutions với ba chỉ báo chuyển động theo hướng. Lưu ý rằng mức 20 được sử dụng thay vì 25 để xác định tín hiệu ADX. Mức cài đặt thấp hơn có nghĩa là nhiều tín hiệu khả thi hơn. Các đường chấm xanh lá cây thể hiện tín hiệu mua và các đường chấm đỏ thể hiện tín hiệu bán. Các điểm dừng lỗ ban đầu không được hiển thị để tập trung vào các tín hiệu của chỉ báo nhưng bạn hãy nhớ đó là Mức cao nhất/thấp nhất trong ngày xuất hiện tín hiệu chính là điểm dừng lỗ.

Như biểu đồ cho thấy rõ, có rất nhiều điểm giao cắt +DI và -DI. Một số xảy ra khi ADX trên 20 để xác nhận tín hiệu. Một số khác xảy ra để vô hiệu hóa tín hiệu. Cũng như hầu hết các hệ thống tương tự, sẽ có những biến động mạnh, tín hiệu tốt và tín hiệu xấu. Điều quan trọng, như mọi khi, là kết hợp các khía cạnh khác của phân tích kỹ thuật. Ví dụ, nhóm biến động mạnh đầu tiên vào tháng 9 năm 2009 xảy ra trong giai đoạn tích lũy. Hơn nữa, giai đoạn tích lũy này trông giống như một mô hình cờ hiệu, là một mô hình tích lũy tăng giá hình thành sau một đợt tăng giá. Sẽ là khôn ngoan nếu bỏ qua các tín hiệu giảm giá khi mô hình tiếp diễn tăng giá đang hình thành. Ngược lại, tín hiệu mua tháng 6 năm 2010 xảy ra gần vùng kháng cự được đánh dấu bởi sự phá vỡ hỗ trợ và vùng thoái lui 50-62%. Trong trường hợp này, sẽ là khôn ngoan nếu bỏ qua tín hiệu mua quá gần vùng kháng cự này.

1772600091358.png

Biểu đồ trên cho thấy cổ phiếu AT&T (T) với ba tín hiệu trong khoảng thời gian 12 tháng. Ba tín hiệu này khá tốt, với điều kiện là bạn đã chốt lời và sử dụng lệnh dừng lỗ kéo theo. Chỉ báo Parabolic SAR của Wilder có thể được sử dụng để thiết lập lệnh dừng lỗ kéo theo. Lưu ý rằng không có tín hiệu bán nào giữa tín hiệu mua tháng 3 và tháng 7. Điều này là do ADX không vượt quá 20 khi -DI vượt lên trên +DI vào cuối tháng 4.

Kết luận:


Các phép tính của chỉ báo Hệ thống Chuyển động Định hướng rất phức tạp, việc diễn giải thì đơn giản, và việc triển khai thành công cần có kinh nghiệm. Sự giao cắt giữa +DI và -DI khá thường xuyên và các nhà phân tích biểu đồ cần lọc các tín hiệu này bằng phân tích bổ sung. Việc cài cặt lại hệ số ADX sẽ làm giảm số lượng tín hiệu, nhưng chỉ báo được làm mịn quá mức này có xu hướng lọc ra nhiều tín hiệu tốt cũng như tín hiệu xấu. Nói cách khác, các nhà phân tích biểu đồ có thể cân nhắc việc bỏ qua ADX và tập trung vào các Chỉ báo Chuyển động Định hướng (+DI và -DI) để tạo ra tín hiệu. Các tín hiệu giao cắt này sẽ tương tự như các tín hiệu được tạo ra bằng cách sử dụng các bộ dao động động lượng. Do đó, các nhà phân tích biểu đồ cần tìm kiếm sự xác nhận từ các nguồn khác. Các chỉ báo dựa trên khối lượng, phân tích xu hướng cơ bản và các mô hình biểu đồ có thể giúp phân biệt tín hiệu giao cắt mạnh với tín hiệu giao cắt yếu. Ví dụ, các nhà phân tích biểu đồ có thể tập trung vào tín hiệu mua +DI khi xu hướng lớn hơn đang tăng và tín hiệu bán -DI khi xu hướng lớn hơn đang giảm.

Nguồn: Stockcharts​

 
 

Giới thiệu sách Trading hay
Giao Dịch Theo Xu Hướng Để Kiếm Sống

Sách chia sẻ chiến lược giao dịch, tâm lý, phương pháp quản lý vốn thực chiến của Trader 18 năm kinh nghiệm giao dịch theo xu hướng

BÌNH LUẬN MỚI NHẤT

AdBlock Detected

We get it, advertisements are annoying!

Sure, ad-blocking software does a great job at blocking ads, but it also blocks useful features of our website. For the best site experience please disable your AdBlocker.

Back
Bên trên

Miễn trừ trách nhiệm

Tất cả nội dung trên website này đều vì mục đích cung cấp thông tin và không phải lời khuyên đầu tư.

Tại Việt Nam, giao dịch CFD forex có các rủi ro nhất định, trong đó bao gồm rủi ro về pháp lý. Độc giả nên tìm hiểu kỹ trước khi đưa ra quyết định tham gia.