Học phân tích thị trường từ Stockcharts (Bài 371): Chỉ báo Khoảng biến động thực trung bình (ATR) và Khoảng biến động thực trung bình phần trăm (ATRP)

Học phân tích thị trường từ Stockcharts (Bài 371): Chỉ báo Khoảng biến động thực trung bình (ATR) và Khoảng biến động thực trung bình phần trăm (ATRP)

Học phân tích thị trường từ Stockcharts (Bài 371): Chỉ báo Khoảng biến động thực trung bình (ATR) và Khoảng biến động thực trung bình phần trăm (ATRP)

Mạc An

Junior Mod
Thành viên BQT
Trial mod
19,481
89,154
Thread cover
data/assets/threadprofilecover/bobvolman-2026-03-05T121300-1772687589.005-1772687589.png
Chủ đề liên quan
41301,41001,87847,87684,87652
Tóm tắt bài trước:
  • Chỉ số định hướng trung bình ( ADX), chỉ báo định hướng âm (-DI) và chỉ báo định hướng dương (+DI) đại diện cho một nhóm các chỉ báo chuyển động định hướng tạo thành một hệ thống giao dịch được phát triển bởi Welles Wilder. Mặc dù Wilder thiết kế Hệ thống Chuyển động Định hướng của mình để sử dụng cho thị trường hàng hóa, nhưng các chỉ báo này cũng có thể được áp dụng cho thị trường cổ phiếu cũng như các thị trường khác. Chuyển động định hướng tích cực và tiêu cực tạo thành xương sống của Hệ thống Chuyển động Định hướng. Wilder xác định chuyển động định hướng bằng cách so sánh chênh lệch giữa hai mức thấp liên tiếp với sự khác biệt giữa các mức cao tương ứng của chúng. Chỉ báo định hướng dương (+DI) và chỉ báo định hướng âm (-DI) được suy ra từ các giá trị trung bình được làm mịn của những sự chênh lệch này và đo lường xu hướng theo thời gian. Hai chỉ báo này thường được gọi chung là Chỉ báo Chuyển động Định hướng (DMI). Chỉ số định hướng trung bình ( ADX) lại được suy ra từ các giá trị trung bình được làm mịn của sự chênh lệch giữa +DI và -DI; nó đo lường sức mạnh của xu hướng (bất kể hướng nào) theo thời gian. Bằng cách sử dụng ba chỉ báo này cùng nhau, các nhà phân tích biểu đồ có thể xác định hướng và sức mạnh của xu hướng. Wilder đã giới thiệu các chỉ báo Chuyển động Định hướng trong cuốn sách năm 1978 của ông, "Những Khái niệm Mới trong Hệ thống Giao dịch sử dụng Phân tích Kỹ thuật". Cuốn sách này cũng bao gồm chi tiết về Chỉ số Phạm vi Thực Trung bình (ATR), hệ thống Parabolic SAR và Chỉ số Sức mạnh Tương đối (RSI). Mặc dù được phát triển trước thời đại máy tính, các chỉ báo của Wilder cực kỳ chi tiết trong cách tính toán và đã được kiểm chứng qua thời gian.
  • Chuyển động định hướng được tính bằng cách so sánh sự khác biệt giữa hai mức thấp liên tiếp với sự khác biệt giữa các mức cao tương ứng của chúng. Chuyển động định hướng là dương (plus) khi mức cao hiện tại trừ đi mức cao trước đó lớn hơn mức thấp trước đó trừ đi mức thấp hiện tại. Cái gọi là Chuyển động Định hướng Dương (+DM) này sau đó bằng mức cao hiện tại trừ đi mức cao trước đó, với điều kiện nó là dương. Giá trị âm sẽ được nhập là 0. Chuyển động định hướng là âm (minus) khi mức thấp trước đó trừ đi mức thấp hiện tại lớn hơn mức cao hiện tại trừ đi mức cao trước đó. Chỉ số chuyển động theo hướng âm (-DM) bằng mức thấp trước đó trừ đi mức thấp hiện tại, với điều kiện giá trị này dương. Giá trị âm sẽ được nhập là 0.
  • Các bước tính toán cho ADX, Chỉ báo định hướng dương (+DI) và Chỉ báo định hướng âm (-DI) dựa trên các giá trị Chuyển động định hướng dương (+DM) và Chuyển động định hướng âm (-DM) đã được nhắc đến trong bài trước, cũng như Khoảng biến động thực trung bình (Average True Range) đã được nói đến trong bài trước. Các phiên bản được làm mịn của +DM và -DM được chia cho phiên bản được làm mịn của Khoảng biến động thực trung bình để phản ánh biên độ thực của chuyển động. Ví dụ tính toán bên dưới dựa trên cài đặt chỉ báo 14 kỳ, theo khuyến nghị của Wilder:
    Bước 1: Tính toán Khoảng biến động thực (TR), Chuyển động định hướng dương (+DM) và Chuyển động định hướng âm (-DM) cho mỗi kỳ.
    Bước 2: Làm mịn các giá trị định kỳ này bằng kỹ thuật làm mịn của Wilder. Các kỹ thuật này được giải thích chi tiết trong phần tiếp theo.
    Bước 3: Chia Chuyển động định hướng dương (+DM) được làm mịn trong 14 ngày cho phạm vi biến động thực tế (True Range) được làm mịn trong 14 ngày để tìm chỉ báo định hướng dương (+DI14) trong 14 ngày. Nhân với 100 để dịch chuyển dấu thập phân hai vị trí. +DI14 này là đường chỉ báo định hướng dương (+DI) màu xanh lá cây được vẽ cùng với đường ADX.
    Bước 4: Chia Chuyển động định hướng âm (-DM) được làm mịn trong 14 ngày cho phạm vi biến động thực tế (True Range) được làm mịn trong 14 ngày để tìm chỉ báo định hướng âm (-DI14) trong 14 ngày. Nhân với 100 để dịch chuyển dấu thập phân hai vị trí. -DI14 này là đường chỉ báo định hướng tiêu âm (-DI) màu đỏ được vẽ cùng với đường ADX.
    Bước 5: Chỉ số chuyển động theo hướng (DX) bằng giá trị tuyệt đối của +DI14 trừ đi -DI14 chia cho tổng của +DI14 và -DI14. Nhân kết quả với 100 để dịch chuyển dấu thập phân hai vị trí.
    Bước 6: Sau tất cả các bước này, đã đến lúc tính toán đường Chỉ số Định hướng Trung bình ( ADX). Giá trị ADX đầu tiên chỉ đơn giản là giá trị trung bình 14 ngày của DX. Các giá trị ADX tiếp theo được làm mịn bằng cách nhân giá trị ADX 14 ngày trước đó với 13, cộng với giá trị DX gần nhất và chia tổng này cho 14.
  • Điều quan trọng là phải hiểu tác động của tất cả các kỹ thuật làm mịn liên quan đến các phép tính ADX, +DI và -DI. Do các kỹ thuật làm mịn của Wilder, có thể cần khoảng 150 kỳ dữ liệu để có được giá trị ADX thực sự. Wilder sử dụng các kỹ thuật làm mịn tương tự với các phép tính RSI và Average True Range của ông. Giá trị ADX chỉ sử dụng 30 kỳ dữ liệu lịch sử sẽ không khớp với giá trị ADX sử dụng 150 kỳ dữ liệu lịch sử. Giá trị ADX với 150 ngày dữ liệu trở lên sẽ vẫn nhất quán. Kỹ thuật đầu tiên được sử dụng để làm mịn các giá trị +DM1, -DM1 và TR1 của mỗi kỳ trong 14 kỳ. Cũng như với trung bình động hàm mũ, phép tính phải bắt đầu từ đâu đó, vì vậy giá trị đầu tiên chỉ đơn giản là tổng của 14 kỳ đầu tiên. Như hình dưới đây, quá trình làm mịn bắt đầu với phép tính 14 kỳ thứ hai và tiếp tục cho đến hết.
    TR14 đầu tiên = Tổng của 14 kỳ đầu tiên của TR1
    TR14 thứ hai = TR14 đầu tiên - (TR14 đầu tiên/14) + TR1 hiện tại
    Các giá trị tiếp theo = TR14 trước đó - (TR14 trước đó/14) + TR1 hiện tại
    Kỹ thuật thứ hai được sử dụng để làm mịn giá trị DX của mỗi kỳ để hoàn thành với Chỉ số Định hướng Trung bình ( ADX). Đầu tiên, tính trung bình cho 14 ngày đầu tiên làm điểm bắt đầu. Các phép tính thứ hai và tiếp theo sử dụng kỹ thuật làm mịn dưới đây:
    ADX14 đầu tiên = Trung bình 14 kỳ của DX
    ADX14 thứ hai = ((ADX14 đầu tiên x 13) + Giá trị DX hiện tại)/14
    ADX14 tiếp theo = ((ADX14 trước đó x 13) + Giá trị DX hiện tại)/14
  • Chỉ số Định hướng Trung bình ( ADX) được sử dụng để đo lường sức mạnh hoặc sự suy yếu của một xu hướng, chứ không phải hướng thực tế. Chuyển động theo hướng được xác định bởi +DI và -DI. Nói chung, phe mua có lợi thế khi +DI lớn hơn -DI, trong khi phe bán có lợi thế khi -DI lớn hơn. Sự giao cắt của các chỉ báo hướng này có thể được kết hợp với ADX để tạo thành một hệ thống giao dịch hoàn chỉnh.
  • Ở mức cơ bản nhất, Chỉ số hướng trung bình ( ADX) có thể được sử dụng để xác định xem một chứng khoán có đang theo xu hướng hay không. Việc xác định này giúp các nhà giao dịch lựa chọn giữa hệ thống theo xu hướng hoặc hệ thống không theo xu hướng. Wilder cho rằng xu hướng mạnh xuất hiện khi ADX trên 25 và không có xu hướng nào khi ADX dưới 20. Có vẻ như có một vùng xám giữa 20 và 25. Như đã đề cập ở trên, các nhà phân tích biểu đồ có thể cần điều chỉnh cài đặt để tăng độ nhạy và tín hiệu. ADX cũng có độ trễ đáng kể do tất cả các kỹ thuật làm mịn. Nhiều nhà phân tích kỹ thuật sử dụng 20 làm mức quan trọng cho ADX.
  • Wilder đã đưa ra một hệ thống đơn giản để giao dịch với các chỉ báo chuyển động theo hướng này. Yêu cầu đầu tiên là chỉ báo ADX phải giao dịch trên mức 25. Điều này đảm bảo rằng giá đang có xu hướng. Tuy nhiên, nhiều nhà giao dịch sử dụng mức 20 làm mức quan trọng. Tín hiệu mua xuất hiện khi +DI vượt lên trên -DI. Wilder đặt điểm dừng lỗ ban đầu dựa trên mức thấp nhất trong ngày xuất hiện tín hiệu. Tín hiệu vẫn có hiệu lực miễn là mức thấp này được giữ vững, ngay cả khi +DI vượt xuống dưới -DI và cho đến khi mức thấp này bị phá vỡ thì tín hiệu mới bị phủ nhận. Tín hiệu tăng giá này được củng cố nếu/khi ADX tăng lên và xu hướng mạnh lên. Khi xu hướng phát triển và chúng ta có lợi nhuận, các nhà giao dịch sẽ phải kết hợp thêm điểm dừng lỗ theo sau nếu xu hướng tiếp tục. Tương tự, tín hiệu bán được kích hoạt khi -DI vượt lên trên +DI. Mức cao nhất trong ngày xuất hiện tín hiệu bán trở thành điểm dừng lỗ ban đầu.

Chỉ báo Khoảng biến động thực trung bình (ATR) là gì?


Được phát triển bởi J. Welles Wilder, Chỉ báo Khoảng biến động thực trung bình (ATR) là một chỉ báo đo lường sự biến động. Cũng như hầu hết các chỉ báo khác của ông, Wilder đã thiết kế ATR với mục đích phân tích thị trường hàng hóa và forex hàng ngày. Hàng hóa thường biến động mạnh hơn cổ phiếu. Chúng thường chịu ảnh hưởng của các khoảng trống giá và các chuyển động giới hạn, xảy ra khi một mặt hàng mở cửa tăng hoặc giảm tới mức tối đa cho phép trong phiên giao dịch. Một công thức đo lường sự biến động chỉ dựa trên phạm vi giá cao-thấp sẽ không thể nắm bắt được sự biến động từ các khoảng trống giá hoặc chuyển động giới hạn. Wilder đã tạo ra Chỉ báo Khoảng biến động thực trung bình để nắm bắt sự biến động “thiếu sót” này. Điều quan trọng cần nhớ là ATR không chỉ ra hướng giá, mà chỉ là sự biến động.

Wilder đã giới thiệu ATR trong cuốn sách năm 1978 của ông: "Những khái niệm mới trong hệ thống giao dịch kỹ thuật". Cuốn sách này cũng bao gồm Parabolic SAR, RSI và Chỉ báo chuyển động định hướng ( ADX). Mặc dù được phát triển trước thời đại máy tính, các chỉ báo của Wilder đã vượt qua thử thách của thời gian và vẫn cực kỳ phổ biến.

Phạm vi thực (True Range - TR)


Wilder bắt đầu với một khái niệm gọi là Phạm vi thực (TR), được định nghĩa là giá trị lớn nhất trong các phương pháp sau:

Phương pháp 1. Giá cao nhất hiện tại trừ đi giá thấp nhất hiện tại
Phương pháp 2. Giá cao nhất hiện tại trừ đi giá đóng cửa của kỳ trước (giá trị tuyệt đối)
Phương pháp 3. Giá thấp nhất hiện tại trừ đi giá đóng cửa của kỳ trước (giá trị tuyệt đối)

Giá trị tuyệt đối được sử dụng để đảm bảo kết quả là các số dương. Xét cho cùng, Wilder quan tâm đến việc đo khoảng cách giữa hai điểm, chứ không phải hướng. Nếu giá cao nhất của kỳ hiện tại cao hơn giá cao nhất của kỳ trước và giá thấp nhất thấp hơn giá thấp nhất của kỳ trước, thì phạm vi giá cao - giá thấp của kỳ hiện tại sẽ được sử dụng làm Phạm vi thực. Đây là một ngày giao dịch ngoài phạm vi (outside day) sử dụng Phương pháp 1 để tính toán TR. Điều này khá đơn giản. Phương pháp 2 và 3 được sử dụng khi có khoảng trống giá (gap) hoặc ngày giao dịch trong phạm vi (inside day). Khoảng trống giá xảy ra khi giá đóng cửa của kỳ trước lớn hơn giá cao nhất hiện tại (báo hiệu khả năng giảm giá đột ngột) hoặc giá đóng cửa của kỳ trước thấp hơn giá thấp nhất hiện tại (báo hiệu khả năng tăng giá đột ngột). Hình ảnh bên dưới minh họa các ví dụ về trường hợp phương pháp 2 và 3 được áp dụng.

1772687062893.png

ATR - Hình ảnh về phạm vi giá thực​

Ví dụ A. Một phạm vi giá cao/thấp nhỏ được hình thành sau một khoảng trống tăng giá. TR bằng giá trị tuyệt đối của hiệu số giữa giá cao hiện tại và giá đóng cửa trước đó.

Ví dụ B. Một phạm vi giá cao/thấp nhỏ được hình thành sau một khoảng trống giảm giá. TR bằng giá trị tuyệt đối của hiệu số giữa giá thấp hiện tại và giá đóng cửa trước đó.

Ví dụ C. Mặc dù giá đóng cửa hiện tại nằm trong phạm vi giá cao/thấp trước đó, nhưng phạm vi giá cao/thấp hiện tại khá nhỏ. Trên thực tế, nó nhỏ hơn giá trị tuyệt đối của hiệu số giữa giá cao hiện tại và giá đóng cửa trước đó, giá trị này được sử dụng để tính toán TR.

Nguồn: Stockcharts​

 
 

Giới thiệu sách Trading hay
Các Phương Pháp Price Action Kinh Điển

Bộ sách tổng hợp các phương pháp Price Action truyền thống và hiện đại, với các hướng dẫn cụ thể và dễ áp dụng cho nhà giao dịch

BÌNH LUẬN MỚI NHẤT

AdBlock Detected

We get it, advertisements are annoying!

Sure, ad-blocking software does a great job at blocking ads, but it also blocks useful features of our website. For the best site experience please disable your AdBlocker.

Back
Bên trên

Miễn trừ trách nhiệm

Tất cả nội dung trên website này đều vì mục đích cung cấp thông tin và không phải lời khuyên đầu tư.

Tại Việt Nam, giao dịch CFD forex có các rủi ro nhất định, trong đó bao gồm rủi ro về pháp lý. Độc giả nên tìm hiểu kỹ trước khi đưa ra quyết định tham gia.