- 4,452
- 18,480
- Thread cover
- data/assets/threadprofilecover/cover-2026-01-15T141748-1768461473.586-1768461473.png
- Chủ đề liên quan
- 50382,87462,84675,84670
Monroe Trout bắt đầu quan tâm đến thị trường tài chính từ năm 17 tuổi khi làm việc mùa hè cho một nhà giao dịch tương lai. Ông tốt nghiệp xuất sắc từ Đại học Harvard, chuyên ngành về thị trường tài chính và đã viết luận văn về thị trường hợp đồng tương lai. Sau khi tốt nghiệp, ông từng làm việc tại tổ chức của Victor Niederhoffer, sau đó tách ra để tự quản lý quỹ đầu tư của mình. Ông nổi tiếng là người sống đơn giản, thuê căn hộ, lái xe rẻ, và đầu tư đến 95% tài sản cá nhân vào quỹ của mình. Ông được phỏng vấn trong cuốn sách New Market Wizard của Jack D. Schwager.
Dưới đây là những quy tắc quản lý rủi ro của ông:
Trong trường hợp từ trên (ngày 9 tháng 1 năm 1991), Monroe đã thực hiện quy tắc 4% và thanh khoản hoàn toàn danh mục đầu tư của mình. Mặc dù các quy tắc của ông không cung cấp nhiều hỗ trợ trong sự kiện cụ thể đó do quy mô vị thế của ông và độ lớn của chuyển động giá thị trường, Monroe đã khẳng định quyết định duy trì các quy tắc của mình. Ông nhấn mạnh rằng nếu không có chúng, ông có thể đã dễ dàng thấy mình nắm giữ S&P vào một ngày như ngày 19 tháng 10 năm 1987 (Thứ Hai đen), điều này sẽ dẫn đến một kết quả thảm khốc nếu việc thoát hiểm của ông bị trì hoãn.
Ông không sử dụng nhiều lệnh dừng thực tế cho giao dịch của mình. Tuy nhiên, ông sử dụng các lệnh dừng lỗ động. Ông thiết lập bộ báo động để một cảnh báo sẽ phát ra bất cứ khi nào một giao dịch đi ngược lại vị thế của ông, cảnh báo vị trí ông bắt đầu thanh lý vị thế.
Tất nhiên, Monroe có một con mắt tốt để phát hiện ra nơi các nhà giao dịch khác hoặc công chúng sẽ đặt lệnh dừng của họ. Ông thường vào thị trường sớm một chút trước khi giá đạt đến điểm đó.
Ông tin rằng giá hầu như luôn đạt được vùng giá số tròn. Vì vậy, vị trí lý tưởng là chốt trước khi giá chạm đến những vùng giá số tròn đó và bị thứ mà ông gọi là “hiệu ứng nam châm”.
Để minh họa điều này tốt hơn, ông có thể mua thị trường chỉ số chứng khoán khi Dow giao dịch quanh mức 2,950, chờ nó tăng lên 3,000. Sau đó, khi thị trường đến gần 3,000, mọi thứ trở nên phức tạp hơn. Khi đó, ông sẽ nói với mọi người trên sàn giao dịch lấy điện thoại và gọi cho các môi giới khác nhau để đánh giá mức độ "tiếng ồn" trên sàn. Nếu nó không đủ lớn, điều đó có nghĩa là quy mô giao dịch thị trường là nhỏ và sau đó ông sẽ bắt đầu thoát khỏi vị thế của mình vì thị trường có thể sẽ giảm xuống. Mặt khác, nếu nó nghe có vẻ điên rồ và nhiều giao dịch đang được thực hiện, ông sẽ giữ vị thế.
Monroe Trout khuyên mọi người tránh đặt lệnh dừng lỗ ở vùng giá số tròn hoặc chốt lãi trước vì nó dễ bị phát hiện.
traderviet.tv
Thành tích nổi bật của Monroe Trout
- Tỷ suất lợi nhuận trung bình 5 năm lên đến 67%/năm, trong khi mức drawdown lớn nhất chỉ hơn 8% – một thành tích cực kỳ hiếm có.
- 87% các tháng ông đều có lợi nhuận, độ ổn định cao hơn nhiều trader tên tuổi khác như Paul Tudor Jones.
- Ông có khả năng cân bằng giữa hiệu quả lợi nhuận và kiểm soát rủi ro mà rất ít hệ thống kỹ thuật khác có thể đạt được.
Dưới đây là những quy tắc quản lý rủi ro của ông:
Quy tắc quản lý rủi ro của Monroe Trout
- Một trong những quy tắc quản lý rủi ro của tôi là nếu chúng tôi thua lỗ hơn 1.5% tổng vốn chủ sở hữu của mình trong một giao dịch nhất định, chúng tôi sẽ thoát ra ngoài.
- Nếu chúng tôi giảm 4% trong một ngày duy nhất, chúng tôi sẽ đóng tất cả các vị thế và đợi đến ngày hôm sau để lại vào bất cứ thứ gì.
- Chúng tôi có mức drawdown tối đa là 10% mỗi tháng. Nếu chúng tôi từng mất số tiền đó, chúng tôi sẽ thoát khỏi tất cả các vị thế của mình và đợi đến đầu tháng tiếp theo để bắt đầu giao dịch lại.
- Vào đầu mỗi tháng, tôi xác định quy mô vị thế tối đa mà tôi sẵn sàng thực hiện trong mỗi thị trường và tôi không vượt quá giới hạn đó, bất kể tôi lạc quan hay bi quan đến mức nào. Quy tắc này giữ cho tôi kiểm soát.
Trong trường hợp từ trên (ngày 9 tháng 1 năm 1991), Monroe đã thực hiện quy tắc 4% và thanh khoản hoàn toàn danh mục đầu tư của mình. Mặc dù các quy tắc của ông không cung cấp nhiều hỗ trợ trong sự kiện cụ thể đó do quy mô vị thế của ông và độ lớn của chuyển động giá thị trường, Monroe đã khẳng định quyết định duy trì các quy tắc của mình. Ông nhấn mạnh rằng nếu không có chúng, ông có thể đã dễ dàng thấy mình nắm giữ S&P vào một ngày như ngày 19 tháng 10 năm 1987 (Thứ Hai đen), điều này sẽ dẫn đến một kết quả thảm khốc nếu việc thoát hiểm của ông bị trì hoãn.
Monroe Trout và Chiến Thuật Sử Dụng “Điểm Dừng Lỗ động”
Ông không sử dụng nhiều lệnh dừng thực tế cho giao dịch của mình. Tuy nhiên, ông sử dụng các lệnh dừng lỗ động. Ông thiết lập bộ báo động để một cảnh báo sẽ phát ra bất cứ khi nào một giao dịch đi ngược lại vị thế của ông, cảnh báo vị trí ông bắt đầu thanh lý vị thế.
Tất nhiên, Monroe có một con mắt tốt để phát hiện ra nơi các nhà giao dịch khác hoặc công chúng sẽ đặt lệnh dừng của họ. Ông thường vào thị trường sớm một chút trước khi giá đạt đến điểm đó.
Ông tin rằng giá hầu như luôn đạt được vùng giá số tròn. Vì vậy, vị trí lý tưởng là chốt trước khi giá chạm đến những vùng giá số tròn đó và bị thứ mà ông gọi là “hiệu ứng nam châm”.
Để minh họa điều này tốt hơn, ông có thể mua thị trường chỉ số chứng khoán khi Dow giao dịch quanh mức 2,950, chờ nó tăng lên 3,000. Sau đó, khi thị trường đến gần 3,000, mọi thứ trở nên phức tạp hơn. Khi đó, ông sẽ nói với mọi người trên sàn giao dịch lấy điện thoại và gọi cho các môi giới khác nhau để đánh giá mức độ "tiếng ồn" trên sàn. Nếu nó không đủ lớn, điều đó có nghĩa là quy mô giao dịch thị trường là nhỏ và sau đó ông sẽ bắt đầu thoát khỏi vị thế của mình vì thị trường có thể sẽ giảm xuống. Mặt khác, nếu nó nghe có vẻ điên rồ và nhiều giao dịch đang được thực hiện, ông sẽ giữ vị thế.
Monroe Trout khuyên mọi người tránh đặt lệnh dừng lỗ ở vùng giá số tròn hoặc chốt lãi trước vì nó dễ bị phát hiện.
Nguồn: wallstreettrader
14 bài học từ trader quỹ đang quản lý hơn 100 triệu đô
Giới thiệu sách Trading hay
Các Phương Pháp Price Action Kinh Điển
Bộ sách tổng hợp các phương pháp Price Action truyền thống và hiện đại, với các hướng dẫn cụ thể và dễ áp dụng cho nhà giao dịch
Bài viết liên quan