Top 20 Nhà Đầu Tư Vĩ Đại Nhất - Stanley Druckermiller

Top 20 Nhà Đầu Tư Vĩ Đại Nhất - Stanley Druckermiller

Top 20 Nhà Đầu Tư Vĩ Đại Nhất - Stanley Druckermiller

pipsmaster

Administrator
Đã Xác Nhận
IB Việt Nam
1,529
8,268
Thread cover
data/threadprofilecover/8373.png
Bài viết phản ánh quan điểm của người viết, không phải của người dịch
-------​

Sinh ngày: 14 tháng 6 năm 1953 (Pittsburgh, Pennsylvania)

Các vị trí làm việc chính mà ông Stanley Druckenmiller đã làm


- Ngân hàng Quốc gia Pittsburgh

- Quản lý tại Duquesne Capital

- Quỹ Dreyfus

- Quỹ Quantum

Tiểu sử cá nhân Stanley Druckenmiller


Stanley Druckenmiller lớn lên trong một gia đình trung lưu ở ngoại ô Philadelphia, sau đó chuyển đến New Jersey và Virginia. Druckenmiller học tại Bowdoin College, tốt nghiệp năm 1975 với bằng Anh văn và Kinh tế. Ông học tiến sĩ kinh tế tại Đại học Michigan, tuy nhiên Druckenmiller đã bỏ học trước khi hoàn thành chương trình tiến sĩ để đảm nhiệm công việc phân tích thị trường dầu cho Ngân hàng Quốc gia Pittsburgh.

Sự nghiệp tài chính của Druckenmiller bắt đầu một cách nghiêm túc vào năm 1977. Một năm sau, ông đã trở thành người đứng đầu nhóm nghiên cứu về cổ phần của ngân hàng Pittsburgh National Bank. Đến năm 1981, ông ra đi để tạo dựng công ty riêng của mình, được gọi là Duquesne Capital Management.

nha-dau-tu-vi-dai-stanley-druckermiller-traderviet-1.jpg

Druckenmiller bắt đầu thăng tiến ở một số công ty lớn với chức danh lớn. Năm 1985, ông là chuyên gia tư vấn cho Quỹ Dreyfus, khiến ông chia sẻ thời gian giữa Pittsburgh và New York. Vào năm 1988, George Soros đã thuê ông giám sát quỹ Quantum Fund.

Druckenmiller bắt tay làm việc với Soros vào tháng 9 năm 1992, khi Soros nổi tiếng với “cú” bảng Anh và kiếm được 1 tỷ USD lợi nhuận qua một đêm.

Druckenmiller thôi làm việc với Soros vào năm 2000 vì một số đầu tư thiệt hại đáng kể trong ngành công nghệ cao. Trong thời gian tiếp theo, sự tập trung của Druckenmiller chỉ dành riêng cho Duquesne Capital.

Năm 2010, Druckenmiller đã tuyên bố đóng cửa Duquesne Capital trong bức thư gửi các nhà đầu tư, giải thích rằng việc quản lý quỹ gây ra "lượng cảm xúc cao" do áp lực bên trong và bên ngoài mà ông đang phải đối mặt. Quỹ Duquesne có lợi tức trung bình hàng năm rất cao khoảng 30% và không có năm nào âm tiền.

nha-dau-tu-vi-dai-stanley-druckermiller-traderviet-2.jpg

Trong những năm gần đây, Druckenmiller trở nên tích cực trong lĩnh vực chính trị. Ông đã khuyên góp cho các chiến dịch của ứng cử viên đảng Cộng hòa nổi bật bao gồm Chris Christie, Jeb Bush và John Kasich. Ông cũng đã ghi tên mình trở thành những cá nhân làm từ thiện nhiều nhất trong nước.

Druckenmiller là Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị Khu Harlem Children's Zone thuộc cộng đồng Harlem. Trong những năm gần đây, Druckenmiller cũng đã thể hiện sự quan tâm đến các khoản đầu tư trong nhượng quyền thương mại Pittsburgh Steelers của Liên đoàn bóng đá Quốc gia. Tuy nhiên, vào cuối năm 2008, Druckenmiller rút lại đề nghị mua đội bóng. Druckenmiller duy trì một văn phòng kiểu gia đình để đầu tư tài sản của mình, tổng cộng hơn 4 tỷ USD.

Triết lý đầu tư của Stanley Druckenmiller


Zerohedge.com đã đề cập tới bài thuyết trình "Endgame" của Druckenmiller như là "bài thuyết giảng truyền lửa nhất". Điều này phản ánh phong cách đầu tư của Druckenmiller mà ông chia sẻ với Soros. Về cơ bản, cách tiếp cận đầu tư này bao gồm việc mua bán dài hạn hoặc ngắn hạn trong một số lĩnh vực dựa trên quan điểm của nhà đầu tư về những thay đổi về kinh tế vĩ mô.

Các ấn phẩm đáng chú ý của Stanley Druckenmiller


“More Money Than God: Hedge Funds and the Making of a New Elite,” by Sebastian Mallaby (2010)

“The New Market Wizards,” by Jack D. Schwager (1995)

Trích dẫn hay của Stanley Druckenmiller


"Nếu bạn đang điều hành một công ty kinh doanh lâu dài, điều cuối cùng bạn nên làm là mượn tiền để mua lại cổ phiếu"

"Một phần lợi thế của tôi là khả năng dự báo kinh tế, nhưng nó chỉ hoạt động trong các thị trường tự do, khi thị trường thông minh hơn người. Đó là cách tôi bắt đầu. Tôi theo dõi thị trường chứng khoán, chứng khoán phản ứng như thế nào với sự thay đổi về mức độ hoạt động kinh tế và tôi có thể hiểu được các tín hiệu giá đã làm việc như thế nào và cách dự báo chúng như thế nào"

"Tăng trưởng nợ tốt là khi bạn mượn tiền và nó đi vào nền kinh tế thực. Bạn chi tiêu vốn. Bạn xây dựng doanh nghiệp"

Like và Comment suy nghĩ của bạn về Stanley Druckermiller nhé :D

>> Top 20 Nhà Đầu Tư Vĩ Đại Nhất - Warren Buffett

>> Top 20 Nhà Đầu Tư Vĩ Đại Nhất - David Einhorn


Nguồn investopedia.com​
 
 

Giới thiệu sách Trading hay
Naked Forex - Phương Pháp Price Action Tinh Gọn

Naked Forex được đánh giá cao trên toàn cầu (theo Amazon) vì đã cung cấp một cẩm nang thực thụ cho những nhà giao dịch theo trường phái Price Action
Bổ sung thêm
Theo lời Scot Bessent, một thằng trong đám đệ của Soros (thằng này đóng vai trò khá quan trọng ở vụ short GBP – aka Black Wednesday, ngày thứ Tư đen tối) thì Stanley Druckenmiller là chiếc máy kiếm tiền vĩ đại nhất trong lịch sử. Thằng Scot nhận định Stanley Druckenmiller có khả năng phân tích của Jim Roger (người cùng Soros lập ra Quantum rồi sau đó tách), khả năng trading của Soros và tinh thần thép của một tay cờ bạc chuyên nghiệp. Có giai đoạn trong vòng 25 năm liên tiếp, thằng Stan chỉ thua lỗ có 5 quý (5%) trong đấy chưa có một năm nào thua lỗ.
Những năm 80, Soros bắt đầu quay sang đam mê chính trị, triết học và từ thiện. Soros chính là người đã tham gia giúp Hungary chuyển từ một quốc gia cộng sản sang theo chủ nghĩa tư bản một cách hòa bình. Để tập trung cho những sự việc trọng đại đấy, Soros tuyển bọn khác vào làm fund manager cho Quantum và đều gọi thân mật bọn đấy là người kế nhiệm.
Stan cho biết nó là thằng kế nhiệm thứ 10 gì đó của Soros vào năm 1988, tất cả những thằng khác trước đó đều không tồn tại được lâu. Vì thành tích sa thải bất hảo này mà đám luật sư với chiên gia cố vấn của Stan đều xui nó không nên về với Soros làm gì, chẳng biết yêu đương được mấy hôm. Tuy vậy Stan đánh giá đây là một cú trade high return/ low risk vì khi làm cùng Soros nó có thể học hỏi được rất nhiều, trong khi xui xẻo lắm thì bị đại ca đá đít ra khỏi cửa. Soros vốn là một thần tượng của Stan. Chính Soros là người đã cứu Stan thoát khỏi vụ sụp đổ thị trường năm 87 khi đưa Stan đọc bản báo cáo của Paul Tudor Jones ngay trước ngày thứ Hai đen tối, lúc Stan vừa phi vào mua với 130% tài sản.
Phong cách chiến đấu của hai thằng vô địch khám lớn này khá tương đồng nhau. Tuy nhiên, làm một thằng Fund Manager dưới trướng một thằng giỏi như Soros chưa hẳn là một điều hay. Soros có một cái bệnh thần kinh là luôn lo sợ những thằng khác không biết trân trọng những đồng tiền quản lý dưới tay nó. Nên mấy tháng đầu làm việc, mọi chuyện của Stan đều bị Soros nhúng tay vào chỉ đạo. Kết quả là công việc loạn hết lên, return chẳng ra sao làm thằng Stan cũng ức chế. Đỉnh điểm là đến tháng Tám năm 1989, khi Druckenmiller bay đến Pittsburgh để theo dõi một quỹ riêng của nó, thì Soros ở nhà tự tiện bán một vị thế trái phiếu của Stan (do Soros đánh giá Stan chỉ là một chuyên gia về cổ phiếu). Thằng Stan khi phát hiện ra điên tiết quá liền gọi điện ngay cho Soros bảo :
– Anh chơi bời kiểu gì thế này? Em đến phát ngấy lên với sự kiểm soát của anh!!! Em quá chán và quá thất vọng, bởi vì làm ở đây bỗng nhiên em lại cảm thấy mình ngu dốt hơn xưa. Thôi từ giờ em té!!! Mỗi người một nơi.
Đến đây, một trong những cú áp phe thành công nhất của Soros đã được đặt lệnh. Soros bình tĩnh bảo Stan: “Chú đừng đi. Việc đấy của anh. Anh sẽ sang châu Âu. Và chúng ta sẽ biết được cuối cùng là anh làm vướng chân chú, hay thật ra kết quả lởm vì chú không giỏi lắm.” Sau đấy Soros chuyển cả gia đình sang London, để Stan lại một mình quản lý Quantum. Đúng thời điểm này ở Đông Âu lại đang diễn ra nhiều sự kiện chính trị nóng bỏng nên Soros cũng dồn hết sức tập trung vào mảng này, thực hiện đúng lời hứa với Stan suốt đến khi cả hai giải tán Quantum. Tất nhiên, lý do chính cho vụ rút lui của Soros là vì Stan làm quá tốt. Chứ không Soros đã ngay lập tức kiếm một thằng kế nhiệm thứ mười một để thay thế nó.
Suốt giai đoạn 1989-2000, quỹ Quantum và các quỹ khác do Soros lập ra đều do Stan làm trại trưởng tối cao. Các vụ thảm sát các ngân hàng Trung Ương từ Đức, Thụy Điển, Anh (92), các quốc gia Nam Mỹ (94), các quốc gia châu Á (97) đều được thực hiện dưới bàn tay đẫm máu của thằng đao phủ có vợ xinh vãi chưởng Stan Druckenmiller này. Soros mặc dù bị báo chí lên án và chửi bới tùm lum, nhưng thực ra Soros gần như vô tội (1) trong những vụ này vì không dám ý kiến, ý cò nhiều kẻo thằng đệ nó lại dỗi. Đóng góp duy nhất của Soros với mấy vụ trên là thi thoảng châm chọc, tỉa đểu Stan:
– Ôi zời. Bé tí thế này mà chú cũng gọi là một vị thế à? Đánh to gấp chục lần lên cho anh. Nếu đã chắc là đúng, chú ngại ngần gì mà không cắt cổ bọn kia đi. Muốn làm một con lợn (béo mập, tham ăn ngập mõm với đòn bẩy lớn) thì phải có máu liều!
Chính vì câu nói này, trên bàn làm việc Stan luôn có một con lợn sứ màu vàng được đặt tên là Jerome.
(1) Giai đoạn những năm 90 thật ra Soros vẫn cầm một cái tài khoản bé tí để trade cho đỡ buồn. Còn lại hoàn toàn do Stan phụ trách, Soros chỉ ngó nghiêng qua loa. Tuy vậy khi báo chí và dư luận hiểu nhầm Soros là linh hồn của Quantum trong giai đoạn hoàng kim này thì Soros mặc kệ, không đính chính gì. Stan cũng không hề muốn lên tiếng để sư phụ mình có thể tận hưởng hết vinh quang.
Jack Schwager phỏng vấn Stanley trong The New Market Wizards khi Stanley vừa quản lý Quantum cho Soros được 3 năm, với mức return hàng năm khoảng 38% trên mức AUM (asset under management) tầm 2-3.5 tỷ USD. Stanley Druckenmiller thuộc về tầng lớp những nhà quản lý ít ỏi quản lý hàng ngàn tỷ USD. Đạt được return gần 40% với một danh mục 100 triệu USD là một điều ấn tượng, nhưng đạt được mức return với danh mục hàng tỷ USD thì quá kinh khủng. Cuộc đối thoại bắt đầu với câu chuyện Stanley nhúng chân vào trong ngành ra sao…
Tao đăng ký một khóa học kinh tế. Tuy nhiên, tao thấy chương trình quá định lượng và lý thuyết, chẳng đề cập nhiều gì đến các ứng dụng thực tế. Tao chán quá và té ở kỳ học thứ hai. Sau đấy tao ứng tuyển vào một chương trình tuyển dụng thực tập ở Pittsburgh National Bank, với ý tưởng là chương trình này sẽ giúp tao có một cái nhìn rộng hơn để quyết định đi sâu vào mảng nào.
Tao thực tập ở đó được vài tháng thì người phụ trách bộ phận ủy thác gọi: “Nghe nói mày đã học đại học Michigan hả?” Khi tao xác nhận, hắn hỏi tao có M.B.A không. Tao trả lời không có. Hắn bảo, “Quá tuyệt. Đến chỗ tao đi, mày đã được tuyển.”
– Nó offer mày vị trí gì?
Tao được tuyển làm phân tích mảng cổ phiếu ngân hàng và hóa chất.
– Đấy có phải là vị trí mà mày mong đợi không?
Tao thực sự chẳng có ý tưởng gì về việc mình sẽ gắn bó với kiểu công việc nào. Hầu hết những người tham gia chương trình thực tập đấy đều có mục đích trở thành cán bộ tín dụng. Tao nghĩ là tao đã làm tương đối tốt cho đến khi thằng phụ trách bộ phận tín dụng nhận xét tao sẽ trở thành một cán bộ tín dụng tồi. Nó cho rằng tao quá quan tâm đến hoạt động thực tế của các công ty, trong khi một cán bộ tín dụng phải được coi như một thằng sale. Nó nghĩ tính cách của tao quá thô lỗ và không phù hợp với việc sale. Tao nhớ là lúc đấy tao cảm thấy rất thất vọng khi bị coi là một kẻ thất bại, trong khi đang nghĩ là mình đã làm khá tốt.
– Kể cho tao nghe về những kinh nghiệm đầu đời của mày khi làm chuyên gia phân toét cổ phiếu với?
Giám đốc đầu tư của bọn tao là Speros Drelles, chính là người đã tuyển tao vào. Cha nội này rất thông minh, chịu khó hướng dẫn người khác nhưng cũng rất lập dị. Khi tao mới 25 tuổi và chỉ từng làm việc ở trong bộ phận được 1 năm thì hắn gọi tao đến văn phòng hắn và thông báo sẽ bổ nhiệm tao làm giám đốc nghiên cứu mảng cổ phiếu. Đây là một quyết định rất kỳ quặc, bởi vì sếp tao khoảng 50 tuổi và đã gắn bó với ngân hàng hơn 25 năm. Ngoài ra, mấy thằng phân tích khác đều có M.B.A và có tuổi đời làm việc lâu hơn.
“Mày biết tại sao tao lại đưa ra quyết định này chứ?”
“Không”
“Giống như lý do người ta cử bọn lính 18 tuổi ra trận thôi.”
“Ý mày là sao?”
“Bởi vì bọn nó quá ngu để biết trốn tránh trách nhiệm.” Drelles tiếp tục, “Đám cổ phiếu small cap đã trải qua một giai đoạn thị trường tụt giảm trong suốt 10 năm (cuộc nói chuyện này diễn ra năm 1978), và tao nghĩ sẽ có một thị trường bull mạnh trong thập kỷ tới. Thành thật là tao phải hứng chịu quá nhiều vết sẹo trong 10 năm qua, trong khi mày thì không. Tao nghĩ là tao với mày sẽ tạo ra một ra một cặp đôi hoàn hảo bởi vì mày quá ngu và thiếu kinh nghiệm để biết là không nên cố mua mọi thứ. Thằng cha kia (sếp của tao lúc đấy, giám đốc nghiên cứu mảng cổ phiếu) thì cũng ôi thiu, cũ kỹ chẳng khác gì tao.”
– Vậy, có nghĩa là mày vượt mặt sếp cũ. Có sự thù địch gì xảy ra không?
Cũng nhiều, và rõ ràng điều này chẳng vui vẻ gì. Mặc dù bây giờ tao nhận ra sếp cũ của tao đã cư xử rất chừng mực trong tình huống đó. Tao không tưởng tượng ra mình có thể cư xử phải phép hơn khi bị thay thế bởi một thằng nhóc 25 tuổi.
– Rõ ràng là Drelles không bổ nhiệm mày chỉ vì tuổi trẻ. Hẳn còn nhiều điều khác nữa chứ?
Tao có năng khiếu bẩm sinh trong lĩnh vực này, và tao nghĩ Drelles ấn tượng với những gì tao phân tích về ngành ngân hàng. Ví dụ, ở thời điểm đó, Citicorp đang phát rồ lên với các vụ cho vay quốc tế làm tao thấy bearish, mà kết quả sau đấy chứng mình là tao đúng. Mặc dù tao không hoàn thành một khóa đào tạo về kinh doanh nào, nhưng tao hiểu biết tương đối tốt về kinh tế và có khả năng gây ấn tượng tốt với những hiểu biết về dòng tiền lưu chuyển trên phương diện quốc tế.
– Những báo cáo của mày viết ra sẽ được đánh giá như nào?
Thằng chuyên gia phân tích sẽ phải thuyết trình ý tưởng của mình trước hội đồng đầu tư cổ phiếu, gồm 7 thành viên. Sau đó, sẽ có một cuộc hỏi đáp trong đó thằng phân tích sẽ phải bảo vệ các khuyến nghị của mình.
– Điều gì xảy ra với các khuyến nghị sau buổi thuyết trình?
Nếu đa số các thành viên tán thành, nó sẽ được đưa vào danh mục lựa chọn cổ phiếu. Một khi nó nằm trong danh mục, mấy thằng quản lý danh mục (portfolio manager) ở ngân hàng sẽ được phép mua cổ phiếu đấy. Bọn nó không được phép mua bất cứ cổ phiếu nào không nằm trong danh mục.
– Nếu mày bearish với một cổ phiếu thì sao?
Nếu khuyến nghị được phê duyệt, cổ phiếu đấy sẽ bị xóa khỏi danh mục đầu tư.
– Mày có thích cương vị chuyên gia phân tích không?
Tao yêu nghề này. Tao thường đến văn phòng vào 6h sáng và ở đấy đến khoảng 8h tối. Nên nhớ, đây là một ngân hàng, chứ không phải một công ty chứng khoán nơi mà giờ làm việc như vậy là bình thường. Một điều thú vị là mặc dù Drelles đã làm ở ngân hàng khoảng 30 năm, hắn cũng đi sớm về khuya tương tự.
– Vậy mày sử dụng phương pháp gì để định giá cổ phiếu?
Lúc tao mới bắt đầu, tao thường viết những báo cáo rất chi tiết về mọi khía cạnh của một cổ phiếu hay một ngành. Trước khi tao thuyết trình ở hội đồng đầu tư cổ phiếu, tao phải trình báo cáo lên giám đốc đầu tư đầu tiên. Tao cực kỳ nhớ lần tao trình sếp báo cáo về ngành ngân hàng. Lúc đấy tao rất tự hào về báo cáo của mình. Tuy nhiên, sếp đọc qua nó và bảo, “Mớ rác rưởi gì đây? Điều gì làm cho cổ phiếu tăng và giảm?”. Nhận xét đấy giống như chậu nước hất vào mặt tao. Kể từ đó, tao tập trung vào việc tìm kiếm các yếu tố có tương quan mạnh đến sự di chuyển giá cổ phiếu thay vì theo dõi các yếu tố cơ bản. Rõ ràng, ngay cả ngày nay, rất nhiều thằng phân tích vẫn không biết điều gì làm cho các cổ phiếu của bọn nó đi lên hay xuống.
– Vậy mày có tìm ra câu trả lời không?
Thường thì yếu tố then chốt là lợi nhuận. Điều này đặc biệt đúng với các cổ phiếu ngân hàng. Tuy vậy, các cổ phiếu hóa chất lại cư xử tương đối khác. Ở trong ngành này, yếu tố then chốt là năng lực sản xuất. Thời điểm lý tưởng nhất để mua các cổ phiếu hóa chất là sau khi năng lực sản xuất giảm và có một chất xúc tác nào đó giúp mày tin rằng cầu về mặt hàng này sẽ tăng. Ngược lại, thời điểm lý tưởng nhất để bán các cổ phiếu này là khi có nhiều thông báo về việc xây dựng các nhà máy mới, chứ không phải do thu nhập giảm. Lý do giải thích cho hành vi này là việc mở rộng các nhà máy đồng nghĩa với thu nhập sẽ giảm đi trong vòng 2, 3 năm tới và thị trường có xu hướng nắm bắt trước điều này.Một điều khác tao học được giúp tao quyết định khi nào cổ phiếu sẽ tăng hay giảm là TA ( phân tích kỹ thuật). Drelles rất khoái TA, và tao cũng là thằng hiểu biết về TA hơn lũ khác trong bộ phận. Mặc dù Drelles là sếp, nhưng rất nhiều người nghĩ hắn là một thằng gàn bởi luôn cặp kè với một đống sách đồ thị. Tuy vậy, tao thấy phân tích kỹ thuật cũng rất hữu dụng.-Thế đám chiên gia phân toét đồng nghiệp có chấp nhận một thằng trẻ và ít kinh nghiệm hơn nhiều như mày làm giám đốc nghiên cứu không?
Khi bọn nó nhận thấy Drelles đưa ra quyết định và không muốn sửa đổi, bọn nó đều chấp nhận tình thế đã rồi. Tuy nhiên, vào cuối năm đấy, Drelles rời khỏi ngân hàng, và tao bỗng nhiên thấy mình bơ vơ. Tao mới chỉ 25 tuổi, trong khi tất cả bọn head của các mảng khác đều ở khoảng 40, 50 tuổi. Ngay khi tin về Drelles nổ ra, đã diễn ra một cuộc tranh giành quyền lực giữa lũ head của các mảng để thay thế vị trí của Drelles.
Sáng thứ 2 hàng ngày, tao và lũ head của các mảng khác phải thuyết trình quan điểm của mình với thằng head bộ phận ủy thác, một thằng luật sư không hề có kinh nghiệm đầu tư. Do đó thằng cha đấy sử dụng các buổi thuyết trình để đưa ra kết luận về việc thay thế Drelles. Rõ ràng là mọi người đánh giá tao bị loại khỏi cuộc đua này. Tất cả đều cho rằng tao giữ được vị trí head về nghiên cứu là đã may lắm rồi, chứ đừng hỏng mơ tưởng đến vị trí của Drelles.
Một thời gian ngắn sau khi Drelles rời đi, quốc vương Iran bị lật đổ (1979). Đây chính là thời điểm việc thiếu kinh nghiệm của tao đem lại lợi nhuận. Khi quốc vương bị hạ bệ, tao quyết định là bọn tao sẽ phân bổ 70% tiền vào các cổ phiếu dầu mỏ và đám còn lại vào các cổ phiếu quốc phòng. Hành động này với tao quá logic nên tao chẳng bận tâm đến các phương án khác. Thời điểm đấy, tao chẳng biết gì về đa dạng hóa. Là giám đốc nghiên cứu, tao có quyền cho phép chỉ những khuyến nghị tao thích được đưa ra thuyết trình với hội đồng đầu tư. Và tao đã tận dựng quyền này để chỉ cho phép thuyết trình về các cổ phiếu dầu mỏ và cổ phiếu quốc phòng.
Tao nhắc đi nhắc lại về chiến lược đầu tư này với thằng head của bộ phận ủy thác vào sáng thứ Hai hàng tuần. Không ngạc nhiên, bọn head của các mảng khác phản đối đề xuất của tao vì có quan điểm khác. Bọn nó phản đối bất cứ ý kiến nào tao đưa ra. Tuy nhiên, có những thời điểm mà khi mày làm gì cũng đúng và đây là một trong những thời điểm đó. Dĩ nhiên, ngày nay tao không bao giờ đầu tư 70% danh mục vào cổ phiếu dầu mỏ, kể cả trong giấc mơ. Nhưng khi đó tao chẳng biết gì hơn. Thật may mắn, đó là một vị thế rất lý tưởng, và danh mục cổ phiếu lựa chọn của bọn tao vượt trội so với S&P500 vô số lần. Sau đó khoảng 9 tháng, trước sự bất ngờ của mọi người, tao được bổ nhiệm thay thế vị trí của Drelles làm giám đốc đầu tư.
-Khi nào thì mày rời ngân hàng?
Năm 1980, khi tao có một buổi thuyết trình ở New York. Sau buổi nói chuyện, một thính giả đến gần tao và kêu lên bất bình “Mày đang làm việc ở ngân hàng! Mày làm cái quái gì ở ngân hàng vậy?”
Tao trả lời “Thế tao biết làm gì khác bây giờ? Thật thà mà nói, tao nghĩ tao may mắn khi đang ở đó với cái kinh nghiệm kém cỏi của mình.”
Sau khi nói chuyện khoảng hai phút, thằng cha đây bảo “Này, sao mày không mở công ty riêng nhỉ?”
“Làm kiểu gì bây giờ? Tao không có xu dính túi nào.”
“Nếu mày mở công ty riêng. Tao sẽ trả mày 10k USD/ tháng chỉ để nói chuyện với mày. Mày thậm chí còn không phải viết bất cứ báo cáo nào.”
Để tiện so sánh, khi tao bắt đầu vào ngân hàng năm 1977, tao nhận được 900$/ tháng. Khi tao được thăng chức lên giám đốc nghiên cứu, lương 1 năm của tao chỉ có 23k USD, và tất cả lũ phân tích dưới quyền tao đều có thu nhập cao hơn tao. Sau khi được bổ nhiệm thay vị trí của Drelles, tao cũng chỉ kiếm được 48k USD/ năm. Trong bối cảnh này, offer 10k USD/ tháng, chưa bao gồm tiền tao có thể kiếm được từ việc quản lý quỹ, là rất hấp dẫn. Ngay cả khi tao thất bại hoàn toàn, tao cũng có thể kiếm được việc khác trả lương cao hơn ở ngân hàng.
Tháng Hai 1981, cùng với một thằng phân tích khác và một thư ký, tao lập ra Duquesne Capital Management. Bọn tao bắt đầu với 1 triệu USD tiền AUM, với mức phí 10k USD/ năm. Hầu hết thu nhập của bọn tao đến từ mức phí tư vấn 10k USD/ tháng ở trên. Bọn tao bắt đầu cực kỳ tốt, bắt được con sóng tăng mạnh của các cổ phiếu low-cap thời điểm đó. Đến giữa năm 1981, các cổ phiểu đều đua nhau lập đỉnh mới, trong khi lãi suất tăng vọt lên 19%. Đây rõ ràng là một trong những tình huống nên bán điển hình trong lịch sử của thị trường. Tao cắt giảm tiền đầu tư xuống 50%, mức này ở thời điểm đấy với tao đã là cắt giảm kinh khủng lắm rồi. Sau đó, bọn tao bị lỗ vào quý III năm 1981.
-Tao không hiểu. Làm thế nào mà mày bị lỗ khi mày vẫn giữ 50% tiền trong danh mục?
Ờ, thì bọn tao bị lỗ do chỗ 50% đang đầu tư.
-Ừ, nhưng mà mày cũng chỉ mất ½ so với bọn khác nhỉ.
Hồi tao làm ở ngân hàng, theo quy trình chuẩn là luôn phải đầu tư gần hết chỗ tiền. Mặc dù tao không còn làm cho ngân hàng, nhưng rõ ràng là tao vẫn bị ảnh hưởng bởi thái độ đấy. Mày phải biết rằng tao cực kỳ bearish vào tháng 6 năm 1981. Tao dự đoán xu hướng của thị trường cực kỳ chính xác vụ đấy, nhưng bọn tao vẫn bị lỗ 12% vào cuối quý III. Do đó tao bảo với các đồng sự, “Đây là một tội ác. Chúng ta chưa bao giờ cảm nhận rõ ràng như này về sự suy giảm của thị trường mà chúng ta vẫn lỗ.” Kể từ đó, bọn tao thay đổi quan điểm đầu tư là nếu mà bọn tao cảm thấy bearish với thị trường thì bọn tao có thể giữ vị thế 100% tiền mặt.
Đến quý IV 1981, thị trường chứng khoán hồi phục một chút. Nhưng bọn tao vẫn cực kỳ bearish và bán sạch các vị thế cổ phiếu. Bọn tao phân bổ 50% tiền mặt và 50% để mua trái phiếu. Bọn tao yêu vị thế mua trái phiếu bởi vì nó trả lợi suất 15%, Fed thì đang rất tight, và lạm phát đang sụt giảm mạnh. Nó giống như là một món quà vậy.
Bọn tao hoạt động rất tốt, và đến tháng Năm 1982 AUM của bọn tao đã tăng lên 7 triệu USD. Một buổi sáng, tao đi làm và phát hiện ra Drysdale Securities – khách hàng mà bọn tao tư vấn – đã phá sản. Tao ngay lập tức liên hệ với đối tác ở công ty đó, nhưng nó không trả lời.
Tao nhận ra rằng bọn tao đang có rắc rối trước mắt. Tổng chi phí kinh doanh của bọn tao là 180k USD/ năm và doanh thu mới của tao chỉ là 70k USD/ năm (1% của 7 triệu USD AUM). Tao không biết làm sao có thể tồn tại được. Ở thời điểm đó, tài sản công ty chỉ có dưới 50k USD, và tao tin chắc là lãi suất đang hạ xuống. Vì vậy tao lấy hết tiền vốn của công ty và mua hợp đồng kỳ hạn T-bill. Bốn ngày sau, tao mất sạch mọi thứ. Điều cay đắng là chưa đầy một tuần sau khi bọn tao cháy túi, lãi suất tạo đỉnh và từ đó chỉ đi xuống. Đấy là khi mà tao học được rằng mày có thể nhận định đúng về thị trường nhưng vẫn thua lỗ nếu lạm dụng đòn bẩy.
Vào lúc đó, tao có một khách hàng cá nhân vừa mới bán đi một công ty phần mềm ở độ tuổi rất trẻ. Thằng này đưa hết đám tiền nó kiếm được cho một thằng broker, và ngay lập tức bị đốt một nửa số đấy ở thị trường option. Do tuyệt vọng, thằng broker kia chuyển thằng khách này qua tao và tao đánh khá tốt cho tài khoản của nó. Vì đây là tài khoản cá nhân nên tao có thể vừa short cổ phiếu và long trái phiếu (ghi chú: tài khoản của pension fund thì không được phép short). Cả hai vị thế này đều ổn và tài khoản của nó tăng vọt.
Hết đường xoay trở, tao mò đến gạ bán một phần công ty cho thằng khách này. Thời điểm đó, đây là một quyết định đầu tư ngu xuẩn nhất mà người ta có thể thực hiện. Đây là một công ty với tài sản -40k USD và luồng tiền thâm hụt 110k USD/ năm, được điều hành bởi một thằng quản lý 28 tuổi với chỉ một năm kinh nghiệm và không hề có tí danh tiếng nào. Tao bán 25% cổ phần của công ty với giá 150k USD, mức mà tao cho rằng đủ để bọn tao tồn tại thêm 12 tháng nữa.
Một tháng sau, bull market quay lại, và trong vòng một năm AUM của bọn tao tăng lên 40 triệu USD. Tao nghĩ 1983 là năm đầu tiên mà tao có thu nhập cao hơn thư ký của mình. Bọn tao làm không tốt lắm trong quãng giữa 1983- giữa 1984 nhưng sau đó mọi thứ lại rất tốt, đặc biệt khi bull market cất cánh năm 1985.
– Khi mày đang thành công như vậy, tại sao mày lại bỏ đi để sang quản lý quỹ Dreyfus?
Năm 1985, tao gặp Howard Stein, thằng trước đó đề nghị tao tư vấn cho Dreyfus. Cuối cùng nó còn thuyết phục được tao chính thức gia nhập Dreyfus làm quản lý một số quỹ của bọn nó. Bọn nó thậm chí còn lập ra mấy quỹ Dreyfus mới xoay quanh phong cách đầu tư của tao. Một điều khoản của hợp đồng cho phép tao tiếp được quản lý Duquesne Fund. Thực tế, tao vẫn quản lý Duquesne cho tới giờ.
– Kinh nghiệm cá nhân của mày trước, trong và sau cuộc sụp đổ thị trường chứng khoán 1987 là như nào?
Nửa đầu năm tuyệt vời bởi vì tao bullish với thị trường, và giá cổ phiếu leo dốc thẳng đứng. Đến tháng Sáu tao thay đổi quan điểm và thực tế là đổi sang bán khống ròng. Hai tháng tiếp đó rất khó khăn bởi vì tao đang chống lại thị trường, và giá cổ phiếu vẫn tiếp tục tăng.
– Điều gì làm cho mày quay ngoặt từ bullish sang bearish?
Nó là sự kết hợp của rất nhiều yếu tố khác nhau. Định giá đạt ngưỡng cực đại: cổ tức giảm 2.6% trong khi P/B cao nhất trong lịch sử. Ngoài ra, Fed đang ở quá trình thắt chặt tiền tệ. Cuối cùng, phân tích kỹ thuật cho thấy thị trường tăng không có bề rộng – cụ thể là sức mạnh của thị trường chủ yếu tập trung ở các cổ phiếu high-cap, trong khi cả một đám khác bị tụt xa đằng sau. Yếu tố này làm cho việc tăng điểm giống như là một cú kéo lên để xả hàng.
– Mày sử dụng định giá để canh thời điểm mua bán như nào? Có khi nào định giá đã ở mức cao vài lần trước khi mày đảo từ bán sang mua?
Tao chẳng bao giờ sử dụng định giá để canh điểm vào ra (timing the market). Tao sử dụng thanh khoản và phân tích kỹ thuật để timing. Định giá chỉ giúp chỉ cho tao thấy thị trường có thể đi bao xa cho đến khi có một nét bút chấm phá mới được điểm vào trong bức tranh để thay đổi hướng đi của thị trường.
– Nét bút chấm phá ở đây là cái gì?
Thanh khoản.
– Điều gì đã xảy ra với thanh khoản năm 1987?
Fed đã bắt đầu chính sách thắt chặt tiền tệ kể từ tháng Giêng 1987, và tiền mặt vẫn tràn lan, điều này gợi ý Fed sẽ tiếp tục thắt chặt hơn.
– Mày đang lãi bao nhiêu trong nửa đầu năm 1987 trước khi đổi từ mua sang bán khống?
Kết quả với mỗi quỹ là khác nhau. Tao đang quản lý 5 cái hedge fund khác nhau ở thời điểm đấy, mỗi cái lại áp dụng một chiến lược khác nhau. Các quỹ đang lãi khoảng 40 – 85% vào thời điểm tao đổi sang bearish. Quỹ ngon nhất có lẽ là Dreyfus Strategic Aggressive Investing Fund, tăng khoảng 40% trong quý II (quý đầu tiên nó đi vào hoạt động, vãi lúa). Chắc chắn đấy là một năm tuyệt với tính tới thời điểm đó.
Rất nhiều thằng quản lý quỹ sẽ hiện thực hóa lợi nhuận khi bọn nó tăng nhiều đến mức như vậy vào trong đầu năm. Triết lý của tao, được khích lệ bởi Soros, lại là khi mà mày đã kiếm đủ nhiều để được phép đánh bạo tay, mày nên đánh bạo tay. Những năm mà mày kiếm được nhiều lúc đầu, mày nên đánh hung hăng đến cùng. Bởi vì tao kiếm được khá ổn trước đó, tao cảm thấy rằng tao đủ khả năng để chống lại thị trường trong một thời gian. Tao biết là bull market sẽ phải chấm dứt, nhưng tao chỉ không biết bao giờ. Ngoài ra, do thấy thị trường đang được định giá quá cao, tao nghĩ rằng khi bò bị cắt cổ, kéo theo đó sẽ là một thảm kịch.
– Vậy hẳn là mày tiếp tục giữ vị thế short cho đến khi thị trường tạo đỉnh vài tháng sau đó?
Chuẩn luôn. Đến ngày 16 tháng Mười 1987, chỉ số Dow đã rớt xuống mức gần 2,200, sau khi tạo đỉnh ở 2,700. Tao gỡ lại được hết số lỗ từ vị thế short trước đó và quay lại hành trình lãi ngập mồm. Đấy chính là khi mà tao gây ra một trong những lỗi lầm đau đớn nhất trong suốt sự nghiệp trading của mình.
Đồ thị cho thấy có một ngưỡng hỗ trợ cực bền ở gần 2,200 dựa trên vùng giao dịch được tạo ra trong hầu hết năm 1986. Tao tin rằng thị trường sẽ được đỡ ở mức đó. Tao cũng đang ở một vị thế thuận lợi, bởi vì đã có lợi nhuận từ việc long rồi short trước đó. Tao quyết định sử dụng đòn bẩy, đổi sang 130% long.
– Mày đưa ra quyết định thay đổi đấy lúc nào?
Vào chiều thứ 6, ngày 16 tháng Mười 1987.
– Đảo từ bán khống ròng sang mua với đòn bẩy vào đúng ngày trước khi xảy ra vụ sụp đổ của thị trường? Mày giỡn chơi tao hả!
Đúng mới nhục. Hôm đấy thanh khoản rất tốt nên tao dễ dàng thay đổi vị thế của mình.
– Cũng không ngạc nhiên lắm vì vụ này, nhưng mà tao hơi khó hiểu. Mày thường nhắc là mày rất coi trọng việc sử dụng phân tích kỹ thuật. Ở thời điểm thị trường sắp rơi tự do như vậy, phân tích kỹ thuật chẳng giúp mày dự báo được gì?
Rất nhiều chỉ số cho thấy thị trường đang bị bán quá đà (oversold) ở thời điểm đó. Hơn nữa, tao nghĩ rằng vùng hỗ trợ 2,200 là vùng đỡ giá cực mạnh, ít nhất là tạm thời. Tao cho rằng ngay cả khi tao sai toét, thì thị trường cũng sẽ không rớt khỏi mức 2,200 vào sáng thứ Hai. Kế hoạch của tao là giữ vị thế mua trong vòng 30 phút đầu mở cửa sáng thứ Hai, và té ngay (bọn này ko bị dính T+3 nên rất linh hoạt, chứ chơi ở VN vừa mua mà gặp bầu Kiên bị bắt thì Stanley cũng mất xác luôn nhé) nếu thị trường thất bại trong việc bật lại.– Lúc nào thì mày nhận thấgy là mình sai?
Chiều thứ Sáu hôm đấy sau giờ đóng cửa, tao tình cờ nói chuyện với Soros. Ông ấy bảo muốn cho tao xem một bản nghiên cứu của Paul Tudor Jones làm. Tao chạy tới chỗ Soros và được xem bản phân tích của Paul làm khoảng 1, 2 tháng trước đó. Bản nghiên cứu cho thấy trong lịch sử thị trường chứng khoán có xu hướng tăng tốc về phía downside bất cứ khi nào một đường cong parabolic hướng dốc lên bị gẫy, giống như đã xảy ra gần thời điểm đấy. Bản phân tích cũng minh họa sự tương đồng kỳ lạ về sự biến đổi của giá giữa thị trường năm 1987 và giá thị trường ở cuộc đại khủng hoảng 1929, với một kết luận tuyệt đối rằng lúc đấy chúng ta đang ở trên bờ vực của cuộc sụp đổ. Mồm miệng tao đắng ngắt khi trở về nhà tối hôm đấy. Tao nhận ra rằng tao vừa lỡ bước chân lên tàu TITANIC.
– Có phải mỗi báo cáo nghiên cứu của Paul Tudor Jones đã làm cho mày nhận ra là mày sai?
Thực thà là còn một yếu tố quan trọng nữa ở vụ này. Vào đầu tháng Tám năm đấy, tao nhận được một cú điện thoại từ một gái sắp đi nghỉ hè ở Pháp. Nàng bảo, “Anh trai em cho rằng thị trường sắp tung tóe tùm lum. Mà em thì sắp đi chơi 3 tuần. Anh có nghĩ là thị trường vẫn ổn cho đến khi em về không?”
Tỏ vẻ nguy hiểm, tao trả lời, “Ờ thị trường có khả năng rớt đấy, nhưng mà anh không nghĩ nó sẽ rớt nhanh vậy đâu. Em cứ tha hồ xõa đi, đừng có lo.”
“Anh có biết anh trai em là ai không?”
“Chịu.”
“Anh ấy là Jack Dreyfus.”
Thời điểm đó theo như tao biết thì Dreyfus đang bận điều hành một tổ chức về y tế và không bận tâm nhiều đến thị trường trong suốt 15 hoặc 20 năm qua. Tuần sau đó, Howard Stein đưa một vị khách tới văn phòng tao, giới thiệu “Đây là Jack Dreyfus”.
Dreyfus mặc một chiếc áo len cardigan và nói chuyện rất nhã nhặn “Tao muốn được hướng dẫn về các hợp đồng future S&P. Mày biết đấy, tao chẳng ngó ngàng gì đến thị trường suốt 20 năm qua. Tuy nhiên, tao rất chú ý đến các câu chuyện mà tao được nghe gần đây khi chơi bài bridge. Thằng đếch nào cũng khoe rùm beng lên về việc nó kiếm được bao nhiêu tiền trên thị trường. Nó làm tao nhớ đến những thứ tao đã đọc được về vụ 1929.”
Dreyfus đang tìm kiếm những bằng chứng về mua margin để xác nhận giả định của hắn là thị trường đang có nguy cơ sụp đổ giống vụ 1929. Các số liệu thống kê về thị trường cổ phiếu không chỉ ra sự tăng đột biến trong mua margin. Tuy nhiên, hắn đọc được ở đâu đó nói rằng người ta đang sử dụng các hợp đồng future S&P để tạo ra vị thế mua trên thị trường chứng khoán với mức margin 10%. Giả thuyết của hắn là các hoạt động mua margin giờ đây đã chuyển vào future. Để kiểm tra cái lập luận này, hắn muốn tao làm một bản nghiên cứu đánh giá xem liệu có sự đầu cơ đột biến nào trong việc mua hợp đồng future S&P hay không.
Bởi vì lúc đấy bọn tao không có sẵn data nên phải mất một thời gian sau tụi tao mới làm xong bản nghiên cứu đấy được. Rất lởm là bọn tao lại hoàn thành bản nghiên cứu vào chiều thứ Sáu 16/10/1987. Nói đơn giản, bản báo cáo chỉ ra đám đầu cơ vẫn short ròng cho đến tận tháng 7/1987 và sau đó đã đảo chiều sang mua cực mạnh.
Tao đến gặp Jack Dreyfus vào sáng thứ Bảy, ngày 17 tháng Mười để chỉ cho hắn kết quả phân tích. Nên nhớ là hắn đã bearish về thị trường kể từ tháng Tám. Lúc đấy, tao đang cực kỳ chán đời bởi vì bản phân tích của Paul Tudor Jones mà Soros cho xem hôm qua.
Dreyfus nhìn vào bản nghiên cứu vừa làm và bảo “Tao đoán giờ đã hơi muộn để phòng tránh những nỗi sợ hãi của tao.” Rõ ràng là vậy. Tao hoàn toàn tin tưởng rằng mình đang đi ngược hướng thị trường. Tao quyết định rằng nếu như thị trường mở cửa trên ngưỡng hỗ trợ vào sáng thứ Hai tới, khoảng 30 điểm thấp hơn so với giá đóng cửa của Dow hôm thứ Sáu tuần đó, và không tăng lập tức, tao sẽ bán sạch sẽ danh mục của mình.
Đến thứ Hai, thị trường mở cửa ở mức 200 điểm thấp hơn. Tao biết mình phải thoát hàng ngay lập tức. Thật may là sau đấy có một cú hồi nhỏ sau giờ mở cửa giúp tao có thể bán sạch vị thế mua của mình rồi ngay lập tức quay đầu sang bán khống.
Chiều hôm đấy, khoảng 3h45 Dreyfus mò đến chỗ tao. Hắn bảo:
“Xin lỗi vì tao không kể với mày trước, nhưng tao đã bán khống đủ lượng S&P để hedge các rủi ro của mình trên thị trường chứng khoán.”
“Oạch, mày bán cỡ bao nhiêu?”
“Đủ xài.”
“Mày bán từ khi nào?”
“À, khoảng 2 tháng trước.” Nói cách khác, hắn bán chính xác ở đúng đỉnh, ở tầm thời điểm mà tao chém với em gái hắn là không cần phải lo về việc thị trường tụt. Hắn hỏi “Mày nghĩ là tao có nên cover vị thế của mình bây giờ không?”
Lúc đấy, mặc dù Dow mới chỉ tụt khoảng 500 điểm xuống gần 1,700 nhưng các hợp đồng future đang giao dịch ở mức giá tương đương với Dow tầm 1,300. Tao hét, “Jack, mày phải cover vị thế luôn bây giờ đi. S&P future đang được giao dịch ở mức discount tầm 4 – 500 điểm so với Dow!” Hắn nhướn mắt nhìn tao và hỏi “Discount là cái đếch gì đấy?”
– Vậy Jack có cover vị thế của nó lúc đó không?
Có chứ! Hắn cover đúng phóc luôn ở đáy.
– Quay lại với chủ đề sự nghiệp của mày, tại sao mày lại rời Dreyfus?
Tao thấy quá tải bởi vì tao đang phải quản lý quá nhiều quỹ (07 cái ở thời điểm tao rời đi, vl). Bên cạnh việc điều hành hoạt động đầu tư, mỗi quỹ còn đòi hỏi tao phải trao đổi cũng như tham gia các hoạt động khác. Ví dụ như mỗi quỹ có 4 cuộc họp ban quản trị vào một năm.
– Mày lấy đếch đâu ra thời gian để mà làm mấy việc vớ vẩn đấy nhỉ?
Tao chịu, vậy nên tao mới té. Trong thời gian tạm nghỉ, tao cũng trao đổi với Soros về các thứ đang diễn ra. Nói chuyện nhiều với Soros, tao bắt đầu nhận ra những điều giang hồ kể về ông ấy là sai toét.
– Bọn nó kể gì với mày?
Chủ yếu về chuyện ở chỗ của Soros. George nổi tiếng là trả nhân viên rất đậm nhưng sau đó sa thải bất thình lình. Bất cứ khi nào tao đề cập đến việc Soros muốn rủ tao về làm là mấy đại ca của tao lại khuyên tao không nên dính đến ông ấy.
Thực tế Soros bắt đầu giới thiệu tao là “người kế nhiệm” từ trước khi tao gia nhập quỹ. Khi tao đến nhà Soros để phỏng vấn, con trai ông ấy thông báo cho tao biết rằng tao chính là “người kế nhiệm” thứ mười mà nó biết. Chẳng thằng nào trong 9 thằng trước đó tồn tại lâu. Và thằng ku đấy nghĩ là điều này thật rồ dại. Khi tao đến văn phòng của Soros hôm kế tiếp, cả đám nhân viên đều đùa cợt gọi tao là “người kế nhiệm.” Bọn nó nghĩ rằng gọi như vậy rất funny.
Tháng Năm 1987, Soros công bố The Alchemy of Finance như một cuốn nhật ký kể lại suy nghĩ và hành động đầu cơ giai đoạn trước đó của mình. Cuốn sách được rất nhiều ngôi sao mới nổi trong ngành nghiên cứu và thần tượng. Khi tái bản đợt sau, Paul Tudor Jones, diễn viên chính của vụ Black Monday đã viết lời đề tựa cho cuốn sách như này: “Soros, liệu hồn đấy!”. Lời đề tựa trên dựa trên cảm hứng từ bộ film về Thế chiến thứ Hai có tên là Patton, trong đó tướng Patton của Mỹ đã đánh bại tướng Erwin Rommel nhờ nghiên cứu kỹ lưỡng các bài viết về chiến thuật do Rommel viết ra. Trong giây phút chiến thắng, Patton đã hạnh phúc thốt lên: “Rommel, thằng khốn khiếp siêu đẳng. Anh đã thuộc lòng sách của mày!”. Stanley cũng hâm mộ Soros chẳng kém gì Paul Tudor Jones.
Trên trang bìa của tạp chí Fortune ngày 28/9/1987 có một tựa đề “Liệu giá cổ phiếu đang quá cao?” khi mà một thị trường tăng giá kể từ đầu thập kỷ 80 đã giúp các cổ phiếu ở trong S&P 400 thời đó được giao dịch với giá trung bình gấp ba lần book value, mức cao nhất kể từ Thế chiến thứ Hai. Tạp chí Fortune mời Soros làm chuyên gia nhận định về vụ này, và Soros tỏ ra khá lạc quan. Theo Soros, việc thị trường được định giá overvalued không có nghĩa là nó thiếu ổn định. Soros chỉ sang Nhật, nơi mà thị trường bị overvalued cao hơn so với thị trường US cực nhiều và lập luận rằng nếu có một cuộc khủng hoảng xảy ra, hẳn nó sẽ giáng vào Tokyo trước rồi mới đến Wall Street.
Soros không phải là người duy nhất bullish. Tuần sau đó Salomon Brothers tung ra một báo cáo nhận định rằng bull market sẽ tiếp tục kéo dài đến 1988. Và tuần sau nữa, Byron Wien, một chuyên gia chiến lược nổi tiếng của Morgan Stanley và là bạn của Soros dự đoán thị trường sẽ lập một đỉnh cao hơn nữa rồi chu kỳ tăng giá này mới kết thúc. Đây là thời kỳ hoàng kim của các vụ leveraged buyout (LBOs). Bọn takeovers đầy tiền đi vay trong túi sẵn sàng đẩy giá cổ phiếu lên các mức cao hơn. Hoạt động của lũ chuyên gia mua bán doanh nghiệp phơi bày tràn ngập trên báo chí. Sự điên rồ của thị trường được phác họa bởi hình ảnh của một chuyên gia tài chính trước đó không ai biết tên là P. David Herrlinger tuyên bố sẵn sàng bỏ ra 6.8 tỷ USD để mua cổ phiếu của công ty Dayton Hudson. Và sau đó báo chí tràn ngập tin về vụ này, dẫn đến cổ phiếu của công ty trên tăng vọt lên trời. Tuy nhiên, rốt cuộc đây chỉ là một tuyên bố lăng nhăng, và Herlinger sau đấy bị tống cổ vào viện tâm thần.
Vào ngày 5/10/1987, Soros mời Stanley đến văn phòng mình. Stanley trước đó đã đọc Alchemy và bày tỏ mong muốn được gặp mặt Soros. Đến lúc gặp nhau là yêu luôn. Soros dụ dỗ Stanley về làm quản lý cho mình để tập trung vào triết học và từ thiện. Stanley từ chối lời mời này, nhưng kể từ đó cũng chơi với Soros gắn bó hơn. Mặc dù có rất nhiều quan điểm chung về đầu tư nhưng khi đấy Soros và Stanley đang có các vị thế trái ngược nhau. Stanley dự đoán thị trường sắp nổ nên đang short Wall Street; Quantum thì đánh arbitrage bằng cách short Tokyo và mua thị trường Mỹ. Nhờ đánh theo cơn điên của thị trường, Quantum đang tăng 60% vào cuối tháng 9. Mọi thứ đang diễn ra tuyệt vời với Soros…Ngày 14/10/1987, Soros đăng một bài báo trên Financial Times tái xác nhận quan điểm là vụ sụp đổ sẽ xuất phát từ Tokyo. Buổi sáng thứ Tư hôm đó, Soros đến trường Harvard’s Kennedy Schoold để thuyết trình về lý thuyết bong bóng – nổ vỡ của mình. Sau khi hoàn thành bài thuyết trình, Soros giật mình nhận ra Wall Street vừa bị bán tháo. Báo chí đăng tin Quốc hội có thể tăng thuế với các hoạt động mua bán sát nhập doanh nghiệp, một hành động có thể làm câm lặng một động cơ của thị trường tăng giá. Chỉ số Dow Jones giảm 3,8% hôm đó, một mức lẽ ra phải làm Soros chú ý. Soros biết rằng thị trường hiện đang ở quá xa điểm cân bằng; cũng như nhận thức được việc sau bong bóng sẽ là một cú nổ vỡ mạnh. Sau này Soros thú nhận, “Thời điểm lẽ ra tao phải đang ở trong trụ sở và tìm cách nhảy ra ngoài thị trường.” Một sai lầm LỚN!
Đến ngày thứ Năm cổ phiếu tiếp tục rớt. Và sang ngày thứ Sáu thị trường lại tuột dốc thẳng đứng. Sau khi thị trường đóng cửa ngày hôm đó, Stanley phi qua thăm Soros. Ba ngày liên tiếp bị bán tháo đã thuyết phục Druckenmiller đây là một cơ hội tốt để mua trong hoảng loạn khi giá tụt về điểm kháng cự có nhiều khả năng bật lên. Chiều thứ Sáu hôm đó, Stanley đã đổi từ vị thế short sang mua ròng. Soros lắng nghe quan điểm của Stanley và đưa cho hắn đống chart mà Paul Tudor Jones đã nghiên cứu. Tiếp đó câu chuyện diễn biến như chúng ta đã biết… Stanley đi gặp Jack Dreyfus… blah blah…
Ngày thứ Hai đen tối, bằng việc ngay lập tức đảo ngược vị thế của mình, Stanley đã thoát được cú bổ nhào một cách ngoạn mục, nhưng chuyện này lại không diễn ra êm đẹp với Soros. Soros đã nỗ lực hết sức để chạy hàng nhưng do vị thế của Soros lớn hơn; và đống cổ phiếu hàng nóng ăn theo các vụ LBO mà Soros cầm thời điểm đó rất khó để bán khi thị trường hoảng loạn. Đến tầm trưa, khi Stanley đã hoàn thành việc đảo ngược vị thế sang bán khống thì Soros vẫn đang tìm cách bán trong tuyệt vọng, do thị trường đã rơi vào tình trạng chết lặng. Một nữ nhân viên ở Wall Street nhớ lại “Mọi người không thể tin được là cổ phiếu của mình có thể rơi kinh hoàng như vậy”. Để tự trấn an mình, cô ta phải nhìn ra ngoài cửa sổ theo dõi một quầy bán hot dog. Miễn là hot dog còn đang được bán, thế giới chưa bị sụp đổ.
Tối thứ Hai, Soros ngồi đánh giá lại tình hình. Wall Street đấm Soros vỡ mặt, nhưng vị thế short của Soros ở Nhật cũng làm dịu vết thương đi nhiều do Nikkei cũng tụt mạnh. Có những lời đồn rằng vụ sụp đổ bất ngờ ở New York chỉ là một hậu quả gây ra bởi một công cụ có tên là “bảo hiểm danh mục đầu tư”. Nếu như điều này đúng, đây là một thông điệp rõ ràng với Soros: thị trường sụp đổ do bị kích phát từ các chương trình trading chứ không phải do các yếu tố cơ bản và do đó nó sẽ sớm điều chỉnh lại. Có lẽ sắp có một đợi tăng giá mới.
Sáng thứ Ba, đúng như dự kiến của Soros, thị trường tăng lại. Soros nhanh chóng quay lại múc. Tuy vậy vị thế short của Soros ở Nhật lại đen đủi một cách bất thường. Trước đó Soros short Nikkei index thông qua các hợp đồng futures ở Hong Kong, nơi mà thị trường thanh khoản tốt hơn. Nhưng khi xảy ra vụ sụp đổ ngày thứ Hai đen tối, bọn sếp sòng ở sàn future Hong Kong quyết định giảm thua lỗ bằng cách tạm đóng cửa sàn. Do đó khi Wall Street tăng trong ngày thứ Ba, dẫn đến khả năng tăng vào ngày kế tiếp ở Nhật, Soros không thể thoát được vị thế của mình. Sang thứ Tư, Nikkei tăng vọt lên 9.3%, mức tăng cao nhất trong một ngày kể từ 1949. Soros chỉ biết câm lặng chịu đòn.
Chỉ vài phút trước khi sàn New York đóng cửa vào ngày thứ Tư, Soros lại nói chuyện với Druckenmiller. Dow Jones đã tăng mạnh hai ngày, và Druckenmiller nghĩ rằng một bước ngoặt nữa sắp đến. Stanley đã nghiên cứu lịch sử các vụ sụp đổ, và hắn thấy một pattern: một cú sụp đổ trong thị trường thường sau đó được nối tiếp bằng hai ngày tăng mạnh, nhưng sau đó thị trường sẽ lại sụp đổ về mức đáy trước đó. Chiều thứ Tư hôm đó, Druckenmiller báo với Soros rằng hắn lại short.
Soros không bị thuyết phục bởi ý kiến này, và bỏ lơ qua ý kiến của mấy thằng đệ. Soros cho rằng ngày thứ Hai đen tối chỉ là một sự hoảng loạn thái quá. Đó chỉ là một ác mộng gây ra bởi hoạt động “bảo hiểm danh mục đầu tư”.
Druckenmiller thường dậy sớm, và sáng thứ Năm hắn dậy với một tâm trạng lo lắng. Thị trường đóng cửa khá mạnh ở phiên trước đó, và Soros có thể đúng khi cho rằng việc quan sát diễn biến lịch sử của giá không đem lại nhiều tác dụng lần này do tác động bất thường của bảo hiểm danh mục đầu tư. Nhưng khi hắn kiểm tra các biến động ở London, Stanley thấy cổ phiếu đang bị thảm sát. Nếu như New York bị tác động bởi London, vị thế short của Druckenmiller sẽ ăn đẹp và Soros sẽ gặp nhiều rắc rối.
Khoảng 8h sáng, Druckenmiller nhận được một cú điện thoại từ bộ phận giao dịch future của Salomon Brothers. Bên môi giới báo “Vừa xuất hiện một con voi trên thị trường và futures có thể mở cửa dưới 200 điểm”. Future đóng cửa ở mức 258 điểm đêm trước đó, và một có rớt mạnh xuống dưới 200, dưới áp lực bán của một con voi, sẽ giúp chỉ số tụt đến gần 25%. Druckenmiller ngay lập tức phản ứng bằng cách đặt lệnh đóng vị thế short nếu các hợp đồng future tụt xuống mức 195 để hiện thực hóa lợi nhuận do ở đây là một ngưỡng hỗ trợ cứng.
Thị trường mở cửa và con voi phi đến. Chỉ số future tụt xuống dưới 200 và lệnh của Druckenmiller được khớp, giúp hắn kiếm được gần 25% chỉ trong một đêm. Khoảng 10 sáng hôm đấy, khi con voi đã ngừng bán tháo và thị trường ổn định trở lại, Druckenmiller nghĩ rằng đã đến lúc tiếp tục đảo vị thế. Nghĩ đến cuộc thảo luận chiều hôm trước, Druckenmiller nhấc điện thoại gọi Soros.
“Hey George, em chỉ muốn báo cáo bác biết là tối qua em đã rất bearish. Nhưng bây giờ em lại nghĩ có lẽ đây là đáy rồi. Có một thằng điên nào đó vừa bán tống, bán tháo điên cuồng. Có vẻ như là nó cực kỳ hoảng loạn.”
Soros lắng nghe bình tĩnh và trả lời “Bây giờ anh mày vẫn đang phải *** láp các vết thương của mình đây. Tao sẽ trở lại và chiến đấu vào lần khác.”
Không cần phải đến cuối tuần đó Druckenmiller mới nhận ra điều gì đã xảy ra. Khi chỉ lát sau hắn nhận được tờ báo mới nhất của Barron và đọc được tin con voi trên thị trường chẳng ai khác mà chính là Soros…
 
 
Bổ sung thêm
Theo lời Scot Bessent, một thằng trong đám đệ của Soros (thằng này đóng vai trò khá quan trọng ở vụ short GBP – aka Black Wednesday, ngày thứ Tư đen tối) thì Stanley Druckenmiller là chiếc máy kiếm tiền vĩ đại nhất trong lịch sử. Thằng Scot nhận định Stanley Druckenmiller có khả năng phân tích của Jim Roger (người cùng Soros lập ra Quantum rồi sau đó tách), khả năng trading của Soros và tinh thần thép của một tay cờ bạc chuyên nghiệp. Có giai đoạn trong vòng 25 năm liên tiếp, thằng Stan chỉ thua lỗ có 5 quý (5%) trong đấy chưa có một năm nào thua lỗ.
Những năm 80, Soros bắt đầu quay sang đam mê chính trị, triết học và từ thiện. Soros chính là người đã tham gia giúp Hungary chuyển từ một quốc gia cộng sản sang theo chủ nghĩa tư bản một cách hòa bình. Để tập trung cho những sự việc trọng đại đấy, Soros tuyển bọn khác vào làm fund manager cho Quantum và đều gọi thân mật bọn đấy là người kế nhiệm.
Stan cho biết nó là thằng kế nhiệm thứ 10 gì đó của Soros vào năm 1988, tất cả những thằng khác trước đó đều không tồn tại được lâu. Vì thành tích sa thải bất hảo này mà đám luật sư với chiên gia cố vấn của Stan đều xui nó không nên về với Soros làm gì, chẳng biết yêu đương được mấy hôm. Tuy vậy Stan đánh giá đây là một cú trade high return/ low risk vì khi làm cùng Soros nó có thể học hỏi được rất nhiều, trong khi xui xẻo lắm thì bị đại ca đá đít ra khỏi cửa. Soros vốn là một thần tượng của Stan. Chính Soros là người đã cứu Stan thoát khỏi vụ sụp đổ thị trường năm 87 khi đưa Stan đọc bản báo cáo của Paul Tudor Jones ngay trước ngày thứ Hai đen tối, lúc Stan vừa phi vào mua với 130% tài sản.
Phong cách chiến đấu của hai thằng vô địch khám lớn này khá tương đồng nhau. Tuy nhiên, làm một thằng Fund Manager dưới trướng một thằng giỏi như Soros chưa hẳn là một điều hay. Soros có một cái bệnh thần kinh là luôn lo sợ những thằng khác không biết trân trọng những đồng tiền quản lý dưới tay nó. Nên mấy tháng đầu làm việc, mọi chuyện của Stan đều bị Soros nhúng tay vào chỉ đạo. Kết quả là công việc loạn hết lên, return chẳng ra sao làm thằng Stan cũng ức chế. Đỉnh điểm là đến tháng Tám năm 1989, khi Druckenmiller bay đến Pittsburgh để theo dõi một quỹ riêng của nó, thì Soros ở nhà tự tiện bán một vị thế trái phiếu của Stan (do Soros đánh giá Stan chỉ là một chuyên gia về cổ phiếu). Thằng Stan khi phát hiện ra điên tiết quá liền gọi điện ngay cho Soros bảo :
– Anh chơi bời kiểu gì thế này? Em đến phát ngấy lên với sự kiểm soát của anh!!! Em quá chán và quá thất vọng, bởi vì làm ở đây bỗng nhiên em lại cảm thấy mình ngu dốt hơn xưa. Thôi từ giờ em té!!! Mỗi người một nơi.
Đến đây, một trong những cú áp phe thành công nhất của Soros đã được đặt lệnh. Soros bình tĩnh bảo Stan: “Chú đừng đi. Việc đấy của anh. Anh sẽ sang châu Âu. Và chúng ta sẽ biết được cuối cùng là anh làm vướng chân chú, hay thật ra kết quả lởm vì chú không giỏi lắm.” Sau đấy Soros chuyển cả gia đình sang London, để Stan lại một mình quản lý Quantum. Đúng thời điểm này ở Đông Âu lại đang diễn ra nhiều sự kiện chính trị nóng bỏng nên Soros cũng dồn hết sức tập trung vào mảng này, thực hiện đúng lời hứa với Stan suốt đến khi cả hai giải tán Quantum. Tất nhiên, lý do chính cho vụ rút lui của Soros là vì Stan làm quá tốt. Chứ không Soros đã ngay lập tức kiếm một thằng kế nhiệm thứ mười một để thay thế nó.
Suốt giai đoạn 1989-2000, quỹ Quantum và các quỹ khác do Soros lập ra đều do Stan làm trại trưởng tối cao. Các vụ thảm sát các ngân hàng Trung Ương từ Đức, Thụy Điển, Anh (92), các quốc gia Nam Mỹ (94), các quốc gia châu Á (97) đều được thực hiện dưới bàn tay đẫm máu của thằng đao phủ có vợ xinh vãi chưởng Stan Druckenmiller này. Soros mặc dù bị báo chí lên án và chửi bới tùm lum, nhưng thực ra Soros gần như vô tội (1) trong những vụ này vì không dám ý kiến, ý cò nhiều kẻo thằng đệ nó lại dỗi. Đóng góp duy nhất của Soros với mấy vụ trên là thi thoảng châm chọc, tỉa đểu Stan:
– Ôi zời. Bé tí thế này mà chú cũng gọi là một vị thế à? Đánh to gấp chục lần lên cho anh. Nếu đã chắc là đúng, chú ngại ngần gì mà không cắt cổ bọn kia đi. Muốn làm một con lợn (béo mập, tham ăn ngập mõm với đòn bẩy lớn) thì phải có máu liều!
Chính vì câu nói này, trên bàn làm việc Stan luôn có một con lợn sứ màu vàng được đặt tên là Jerome.
(1) Giai đoạn những năm 90 thật ra Soros vẫn cầm một cái tài khoản bé tí để trade cho đỡ buồn. Còn lại hoàn toàn do Stan phụ trách, Soros chỉ ngó nghiêng qua loa. Tuy vậy khi báo chí và dư luận hiểu nhầm Soros là linh hồn của Quantum trong giai đoạn hoàng kim này thì Soros mặc kệ, không đính chính gì. Stan cũng không hề muốn lên tiếng để sư phụ mình có thể tận hưởng hết vinh quang.
Jack Schwager phỏng vấn Stanley trong The New Market Wizards khi Stanley vừa quản lý Quantum cho Soros được 3 năm, với mức return hàng năm khoảng 38% trên mức AUM (asset under management) tầm 2-3.5 tỷ USD. Stanley Druckenmiller thuộc về tầng lớp những nhà quản lý ít ỏi quản lý hàng ngàn tỷ USD. Đạt được return gần 40% với một danh mục 100 triệu USD là một điều ấn tượng, nhưng đạt được mức return với danh mục hàng tỷ USD thì quá kinh khủng. Cuộc đối thoại bắt đầu với câu chuyện Stanley nhúng chân vào trong ngành ra sao…
Tao đăng ký một khóa học kinh tế. Tuy nhiên, tao thấy chương trình quá định lượng và lý thuyết, chẳng đề cập nhiều gì đến các ứng dụng thực tế. Tao chán quá và té ở kỳ học thứ hai. Sau đấy tao ứng tuyển vào một chương trình tuyển dụng thực tập ở Pittsburgh National Bank, với ý tưởng là chương trình này sẽ giúp tao có một cái nhìn rộng hơn để quyết định đi sâu vào mảng nào.
Tao thực tập ở đó được vài tháng thì người phụ trách bộ phận ủy thác gọi: “Nghe nói mày đã học đại học Michigan hả?” Khi tao xác nhận, hắn hỏi tao có M.B.A không. Tao trả lời không có. Hắn bảo, “Quá tuyệt. Đến chỗ tao đi, mày đã được tuyển.”
– Nó offer mày vị trí gì?
Tao được tuyển làm phân tích mảng cổ phiếu ngân hàng và hóa chất.
– Đấy có phải là vị trí mà mày mong đợi không?
Tao thực sự chẳng có ý tưởng gì về việc mình sẽ gắn bó với kiểu công việc nào. Hầu hết những người tham gia chương trình thực tập đấy đều có mục đích trở thành cán bộ tín dụng. Tao nghĩ là tao đã làm tương đối tốt cho đến khi thằng phụ trách bộ phận tín dụng nhận xét tao sẽ trở thành một cán bộ tín dụng tồi. Nó cho rằng tao quá quan tâm đến hoạt động thực tế của các công ty, trong khi một cán bộ tín dụng phải được coi như một thằng sale. Nó nghĩ tính cách của tao quá thô lỗ và không phù hợp với việc sale. Tao nhớ là lúc đấy tao cảm thấy rất thất vọng khi bị coi là một kẻ thất bại, trong khi đang nghĩ là mình đã làm khá tốt.
– Kể cho tao nghe về những kinh nghiệm đầu đời của mày khi làm chuyên gia phân toét cổ phiếu với?
Giám đốc đầu tư của bọn tao là Speros Drelles, chính là người đã tuyển tao vào. Cha nội này rất thông minh, chịu khó hướng dẫn người khác nhưng cũng rất lập dị. Khi tao mới 25 tuổi và chỉ từng làm việc ở trong bộ phận được 1 năm thì hắn gọi tao đến văn phòng hắn và thông báo sẽ bổ nhiệm tao làm giám đốc nghiên cứu mảng cổ phiếu. Đây là một quyết định rất kỳ quặc, bởi vì sếp tao khoảng 50 tuổi và đã gắn bó với ngân hàng hơn 25 năm. Ngoài ra, mấy thằng phân tích khác đều có M.B.A và có tuổi đời làm việc lâu hơn.
“Mày biết tại sao tao lại đưa ra quyết định này chứ?”
“Không”
“Giống như lý do người ta cử bọn lính 18 tuổi ra trận thôi.”
“Ý mày là sao?”
“Bởi vì bọn nó quá ngu để biết trốn tránh trách nhiệm.” Drelles tiếp tục, “Đám cổ phiếu small cap đã trải qua một giai đoạn thị trường tụt giảm trong suốt 10 năm (cuộc nói chuyện này diễn ra năm 1978), và tao nghĩ sẽ có một thị trường bull mạnh trong thập kỷ tới. Thành thật là tao phải hứng chịu quá nhiều vết sẹo trong 10 năm qua, trong khi mày thì không. Tao nghĩ là tao với mày sẽ tạo ra một ra một cặp đôi hoàn hảo bởi vì mày quá ngu và thiếu kinh nghiệm để biết là không nên cố mua mọi thứ. Thằng cha kia (sếp của tao lúc đấy, giám đốc nghiên cứu mảng cổ phiếu) thì cũng ôi thiu, cũ kỹ chẳng khác gì tao.”
– Vậy, có nghĩa là mày vượt mặt sếp cũ. Có sự thù địch gì xảy ra không?
Cũng nhiều, và rõ ràng điều này chẳng vui vẻ gì. Mặc dù bây giờ tao nhận ra sếp cũ của tao đã cư xử rất chừng mực trong tình huống đó. Tao không tưởng tượng ra mình có thể cư xử phải phép hơn khi bị thay thế bởi một thằng nhóc 25 tuổi.
– Rõ ràng là Drelles không bổ nhiệm mày chỉ vì tuổi trẻ. Hẳn còn nhiều điều khác nữa chứ?
Tao có năng khiếu bẩm sinh trong lĩnh vực này, và tao nghĩ Drelles ấn tượng với những gì tao phân tích về ngành ngân hàng. Ví dụ, ở thời điểm đó, Citicorp đang phát rồ lên với các vụ cho vay quốc tế làm tao thấy bearish, mà kết quả sau đấy chứng mình là tao đúng. Mặc dù tao không hoàn thành một khóa đào tạo về kinh doanh nào, nhưng tao hiểu biết tương đối tốt về kinh tế và có khả năng gây ấn tượng tốt với những hiểu biết về dòng tiền lưu chuyển trên phương diện quốc tế.
– Những báo cáo của mày viết ra sẽ được đánh giá như nào?
Thằng chuyên gia phân tích sẽ phải thuyết trình ý tưởng của mình trước hội đồng đầu tư cổ phiếu, gồm 7 thành viên. Sau đó, sẽ có một cuộc hỏi đáp trong đó thằng phân tích sẽ phải bảo vệ các khuyến nghị của mình.
– Điều gì xảy ra với các khuyến nghị sau buổi thuyết trình?
Nếu đa số các thành viên tán thành, nó sẽ được đưa vào danh mục lựa chọn cổ phiếu. Một khi nó nằm trong danh mục, mấy thằng quản lý danh mục (portfolio manager) ở ngân hàng sẽ được phép mua cổ phiếu đấy. Bọn nó không được phép mua bất cứ cổ phiếu nào không nằm trong danh mục.
– Nếu mày bearish với một cổ phiếu thì sao?
Nếu khuyến nghị được phê duyệt, cổ phiếu đấy sẽ bị xóa khỏi danh mục đầu tư.
– Mày có thích cương vị chuyên gia phân tích không?
Tao yêu nghề này. Tao thường đến văn phòng vào 6h sáng và ở đấy đến khoảng 8h tối. Nên nhớ, đây là một ngân hàng, chứ không phải một công ty chứng khoán nơi mà giờ làm việc như vậy là bình thường. Một điều thú vị là mặc dù Drelles đã làm ở ngân hàng khoảng 30 năm, hắn cũng đi sớm về khuya tương tự.
– Vậy mày sử dụng phương pháp gì để định giá cổ phiếu?
Lúc tao mới bắt đầu, tao thường viết những báo cáo rất chi tiết về mọi khía cạnh của một cổ phiếu hay một ngành. Trước khi tao thuyết trình ở hội đồng đầu tư cổ phiếu, tao phải trình báo cáo lên giám đốc đầu tư đầu tiên. Tao cực kỳ nhớ lần tao trình sếp báo cáo về ngành ngân hàng. Lúc đấy tao rất tự hào về báo cáo của mình. Tuy nhiên, sếp đọc qua nó và bảo, “Mớ rác rưởi gì đây? Điều gì làm cho cổ phiếu tăng và giảm?”. Nhận xét đấy giống như chậu nước hất vào mặt tao. Kể từ đó, tao tập trung vào việc tìm kiếm các yếu tố có tương quan mạnh đến sự di chuyển giá cổ phiếu thay vì theo dõi các yếu tố cơ bản. Rõ ràng, ngay cả ngày nay, rất nhiều thằng phân tích vẫn không biết điều gì làm cho các cổ phiếu của bọn nó đi lên hay xuống.
– Vậy mày có tìm ra câu trả lời không?
Thường thì yếu tố then chốt là lợi nhuận. Điều này đặc biệt đúng với các cổ phiếu ngân hàng. Tuy vậy, các cổ phiếu hóa chất lại cư xử tương đối khác. Ở trong ngành này, yếu tố then chốt là năng lực sản xuất. Thời điểm lý tưởng nhất để mua các cổ phiếu hóa chất là sau khi năng lực sản xuất giảm và có một chất xúc tác nào đó giúp mày tin rằng cầu về mặt hàng này sẽ tăng. Ngược lại, thời điểm lý tưởng nhất để bán các cổ phiếu này là khi có nhiều thông báo về việc xây dựng các nhà máy mới, chứ không phải do thu nhập giảm. Lý do giải thích cho hành vi này là việc mở rộng các nhà máy đồng nghĩa với thu nhập sẽ giảm đi trong vòng 2, 3 năm tới và thị trường có xu hướng nắm bắt trước điều này.Một điều khác tao học được giúp tao quyết định khi nào cổ phiếu sẽ tăng hay giảm là TA ( phân tích kỹ thuật). Drelles rất khoái TA, và tao cũng là thằng hiểu biết về TA hơn lũ khác trong bộ phận. Mặc dù Drelles là sếp, nhưng rất nhiều người nghĩ hắn là một thằng gàn bởi luôn cặp kè với một đống sách đồ thị. Tuy vậy, tao thấy phân tích kỹ thuật cũng rất hữu dụng.-Thế đám chiên gia phân toét đồng nghiệp có chấp nhận một thằng trẻ và ít kinh nghiệm hơn nhiều như mày làm giám đốc nghiên cứu không?
Khi bọn nó nhận thấy Drelles đưa ra quyết định và không muốn sửa đổi, bọn nó đều chấp nhận tình thế đã rồi. Tuy nhiên, vào cuối năm đấy, Drelles rời khỏi ngân hàng, và tao bỗng nhiên thấy mình bơ vơ. Tao mới chỉ 25 tuổi, trong khi tất cả bọn head của các mảng khác đều ở khoảng 40, 50 tuổi. Ngay khi tin về Drelles nổ ra, đã diễn ra một cuộc tranh giành quyền lực giữa lũ head của các mảng để thay thế vị trí của Drelles.
Sáng thứ 2 hàng ngày, tao và lũ head của các mảng khác phải thuyết trình quan điểm của mình với thằng head bộ phận ủy thác, một thằng luật sư không hề có kinh nghiệm đầu tư. Do đó thằng cha đấy sử dụng các buổi thuyết trình để đưa ra kết luận về việc thay thế Drelles. Rõ ràng là mọi người đánh giá tao bị loại khỏi cuộc đua này. Tất cả đều cho rằng tao giữ được vị trí head về nghiên cứu là đã may lắm rồi, chứ đừng hỏng mơ tưởng đến vị trí của Drelles.
Một thời gian ngắn sau khi Drelles rời đi, quốc vương Iran bị lật đổ (1979). Đây chính là thời điểm việc thiếu kinh nghiệm của tao đem lại lợi nhuận. Khi quốc vương bị hạ bệ, tao quyết định là bọn tao sẽ phân bổ 70% tiền vào các cổ phiếu dầu mỏ và đám còn lại vào các cổ phiếu quốc phòng. Hành động này với tao quá logic nên tao chẳng bận tâm đến các phương án khác. Thời điểm đấy, tao chẳng biết gì về đa dạng hóa. Là giám đốc nghiên cứu, tao có quyền cho phép chỉ những khuyến nghị tao thích được đưa ra thuyết trình với hội đồng đầu tư. Và tao đã tận dựng quyền này để chỉ cho phép thuyết trình về các cổ phiếu dầu mỏ và cổ phiếu quốc phòng.
Tao nhắc đi nhắc lại về chiến lược đầu tư này với thằng head của bộ phận ủy thác vào sáng thứ Hai hàng tuần. Không ngạc nhiên, bọn head của các mảng khác phản đối đề xuất của tao vì có quan điểm khác. Bọn nó phản đối bất cứ ý kiến nào tao đưa ra. Tuy nhiên, có những thời điểm mà khi mày làm gì cũng đúng và đây là một trong những thời điểm đó. Dĩ nhiên, ngày nay tao không bao giờ đầu tư 70% danh mục vào cổ phiếu dầu mỏ, kể cả trong giấc mơ. Nhưng khi đó tao chẳng biết gì hơn. Thật may mắn, đó là một vị thế rất lý tưởng, và danh mục cổ phiếu lựa chọn của bọn tao vượt trội so với S&P500 vô số lần. Sau đó khoảng 9 tháng, trước sự bất ngờ của mọi người, tao được bổ nhiệm thay thế vị trí của Drelles làm giám đốc đầu tư.
-Khi nào thì mày rời ngân hàng?
Năm 1980, khi tao có một buổi thuyết trình ở New York. Sau buổi nói chuyện, một thính giả đến gần tao và kêu lên bất bình “Mày đang làm việc ở ngân hàng! Mày làm cái quái gì ở ngân hàng vậy?”
Tao trả lời “Thế tao biết làm gì khác bây giờ? Thật thà mà nói, tao nghĩ tao may mắn khi đang ở đó với cái kinh nghiệm kém cỏi của mình.”
Sau khi nói chuyện khoảng hai phút, thằng cha đây bảo “Này, sao mày không mở công ty riêng nhỉ?”
“Làm kiểu gì bây giờ? Tao không có xu dính túi nào.”
“Nếu mày mở công ty riêng. Tao sẽ trả mày 10k USD/ tháng chỉ để nói chuyện với mày. Mày thậm chí còn không phải viết bất cứ báo cáo nào.”
Để tiện so sánh, khi tao bắt đầu vào ngân hàng năm 1977, tao nhận được 900$/ tháng. Khi tao được thăng chức lên giám đốc nghiên cứu, lương 1 năm của tao chỉ có 23k USD, và tất cả lũ phân tích dưới quyền tao đều có thu nhập cao hơn tao. Sau khi được bổ nhiệm thay vị trí của Drelles, tao cũng chỉ kiếm được 48k USD/ năm. Trong bối cảnh này, offer 10k USD/ tháng, chưa bao gồm tiền tao có thể kiếm được từ việc quản lý quỹ, là rất hấp dẫn. Ngay cả khi tao thất bại hoàn toàn, tao cũng có thể kiếm được việc khác trả lương cao hơn ở ngân hàng.
Tháng Hai 1981, cùng với một thằng phân tích khác và một thư ký, tao lập ra Duquesne Capital Management. Bọn tao bắt đầu với 1 triệu USD tiền AUM, với mức phí 10k USD/ năm. Hầu hết thu nhập của bọn tao đến từ mức phí tư vấn 10k USD/ tháng ở trên. Bọn tao bắt đầu cực kỳ tốt, bắt được con sóng tăng mạnh của các cổ phiếu low-cap thời điểm đó. Đến giữa năm 1981, các cổ phiểu đều đua nhau lập đỉnh mới, trong khi lãi suất tăng vọt lên 19%. Đây rõ ràng là một trong những tình huống nên bán điển hình trong lịch sử của thị trường. Tao cắt giảm tiền đầu tư xuống 50%, mức này ở thời điểm đấy với tao đã là cắt giảm kinh khủng lắm rồi. Sau đó, bọn tao bị lỗ vào quý III năm 1981.
-Tao không hiểu. Làm thế nào mà mày bị lỗ khi mày vẫn giữ 50% tiền trong danh mục?
Ờ, thì bọn tao bị lỗ do chỗ 50% đang đầu tư.
-Ừ, nhưng mà mày cũng chỉ mất ½ so với bọn khác nhỉ.
Hồi tao làm ở ngân hàng, theo quy trình chuẩn là luôn phải đầu tư gần hết chỗ tiền. Mặc dù tao không còn làm cho ngân hàng, nhưng rõ ràng là tao vẫn bị ảnh hưởng bởi thái độ đấy. Mày phải biết rằng tao cực kỳ bearish vào tháng 6 năm 1981. Tao dự đoán xu hướng của thị trường cực kỳ chính xác vụ đấy, nhưng bọn tao vẫn bị lỗ 12% vào cuối quý III. Do đó tao bảo với các đồng sự, “Đây là một tội ác. Chúng ta chưa bao giờ cảm nhận rõ ràng như này về sự suy giảm của thị trường mà chúng ta vẫn lỗ.” Kể từ đó, bọn tao thay đổi quan điểm đầu tư là nếu mà bọn tao cảm thấy bearish với thị trường thì bọn tao có thể giữ vị thế 100% tiền mặt.
Đến quý IV 1981, thị trường chứng khoán hồi phục một chút. Nhưng bọn tao vẫn cực kỳ bearish và bán sạch các vị thế cổ phiếu. Bọn tao phân bổ 50% tiền mặt và 50% để mua trái phiếu. Bọn tao yêu vị thế mua trái phiếu bởi vì nó trả lợi suất 15%, Fed thì đang rất tight, và lạm phát đang sụt giảm mạnh. Nó giống như là một món quà vậy.
Bọn tao hoạt động rất tốt, và đến tháng Năm 1982 AUM của bọn tao đã tăng lên 7 triệu USD. Một buổi sáng, tao đi làm và phát hiện ra Drysdale Securities – khách hàng mà bọn tao tư vấn – đã phá sản. Tao ngay lập tức liên hệ với đối tác ở công ty đó, nhưng nó không trả lời.
Tao nhận ra rằng bọn tao đang có rắc rối trước mắt. Tổng chi phí kinh doanh của bọn tao là 180k USD/ năm và doanh thu mới của tao chỉ là 70k USD/ năm (1% của 7 triệu USD AUM). Tao không biết làm sao có thể tồn tại được. Ở thời điểm đó, tài sản công ty chỉ có dưới 50k USD, và tao tin chắc là lãi suất đang hạ xuống. Vì vậy tao lấy hết tiền vốn của công ty và mua hợp đồng kỳ hạn T-bill. Bốn ngày sau, tao mất sạch mọi thứ. Điều cay đắng là chưa đầy một tuần sau khi bọn tao cháy túi, lãi suất tạo đỉnh và từ đó chỉ đi xuống. Đấy là khi mà tao học được rằng mày có thể nhận định đúng về thị trường nhưng vẫn thua lỗ nếu lạm dụng đòn bẩy.
Vào lúc đó, tao có một khách hàng cá nhân vừa mới bán đi một công ty phần mềm ở độ tuổi rất trẻ. Thằng này đưa hết đám tiền nó kiếm được cho một thằng broker, và ngay lập tức bị đốt một nửa số đấy ở thị trường option. Do tuyệt vọng, thằng broker kia chuyển thằng khách này qua tao và tao đánh khá tốt cho tài khoản của nó. Vì đây là tài khoản cá nhân nên tao có thể vừa short cổ phiếu và long trái phiếu (ghi chú: tài khoản của pension fund thì không được phép short). Cả hai vị thế này đều ổn và tài khoản của nó tăng vọt.
Hết đường xoay trở, tao mò đến gạ bán một phần công ty cho thằng khách này. Thời điểm đó, đây là một quyết định đầu tư ngu xuẩn nhất mà người ta có thể thực hiện. Đây là một công ty với tài sản -40k USD và luồng tiền thâm hụt 110k USD/ năm, được điều hành bởi một thằng quản lý 28 tuổi với chỉ một năm kinh nghiệm và không hề có tí danh tiếng nào. Tao bán 25% cổ phần của công ty với giá 150k USD, mức mà tao cho rằng đủ để bọn tao tồn tại thêm 12 tháng nữa.
Một tháng sau, bull market quay lại, và trong vòng một năm AUM của bọn tao tăng lên 40 triệu USD. Tao nghĩ 1983 là năm đầu tiên mà tao có thu nhập cao hơn thư ký của mình. Bọn tao làm không tốt lắm trong quãng giữa 1983- giữa 1984 nhưng sau đó mọi thứ lại rất tốt, đặc biệt khi bull market cất cánh năm 1985.
– Khi mày đang thành công như vậy, tại sao mày lại bỏ đi để sang quản lý quỹ Dreyfus?
Năm 1985, tao gặp Howard Stein, thằng trước đó đề nghị tao tư vấn cho Dreyfus. Cuối cùng nó còn thuyết phục được tao chính thức gia nhập Dreyfus làm quản lý một số quỹ của bọn nó. Bọn nó thậm chí còn lập ra mấy quỹ Dreyfus mới xoay quanh phong cách đầu tư của tao. Một điều khoản của hợp đồng cho phép tao tiếp được quản lý Duquesne Fund. Thực tế, tao vẫn quản lý Duquesne cho tới giờ.
– Kinh nghiệm cá nhân của mày trước, trong và sau cuộc sụp đổ thị trường chứng khoán 1987 là như nào?
Nửa đầu năm tuyệt vời bởi vì tao bullish với thị trường, và giá cổ phiếu leo dốc thẳng đứng. Đến tháng Sáu tao thay đổi quan điểm và thực tế là đổi sang bán khống ròng. Hai tháng tiếp đó rất khó khăn bởi vì tao đang chống lại thị trường, và giá cổ phiếu vẫn tiếp tục tăng.
– Điều gì làm cho mày quay ngoặt từ bullish sang bearish?
Nó là sự kết hợp của rất nhiều yếu tố khác nhau. Định giá đạt ngưỡng cực đại: cổ tức giảm 2.6% trong khi P/B cao nhất trong lịch sử. Ngoài ra, Fed đang ở quá trình thắt chặt tiền tệ. Cuối cùng, phân tích kỹ thuật cho thấy thị trường tăng không có bề rộng – cụ thể là sức mạnh của thị trường chủ yếu tập trung ở các cổ phiếu high-cap, trong khi cả một đám khác bị tụt xa đằng sau. Yếu tố này làm cho việc tăng điểm giống như là một cú kéo lên để xả hàng.
– Mày sử dụng định giá để canh thời điểm mua bán như nào? Có khi nào định giá đã ở mức cao vài lần trước khi mày đảo từ bán sang mua?
Tao chẳng bao giờ sử dụng định giá để canh điểm vào ra (timing the market). Tao sử dụng thanh khoản và phân tích kỹ thuật để timing. Định giá chỉ giúp chỉ cho tao thấy thị trường có thể đi bao xa cho đến khi có một nét bút chấm phá mới được điểm vào trong bức tranh để thay đổi hướng đi của thị trường.
– Nét bút chấm phá ở đây là cái gì?
Thanh khoản.
– Điều gì đã xảy ra với thanh khoản năm 1987?
Fed đã bắt đầu chính sách thắt chặt tiền tệ kể từ tháng Giêng 1987, và tiền mặt vẫn tràn lan, điều này gợi ý Fed sẽ tiếp tục thắt chặt hơn.
– Mày đang lãi bao nhiêu trong nửa đầu năm 1987 trước khi đổi từ mua sang bán khống?
Kết quả với mỗi quỹ là khác nhau. Tao đang quản lý 5 cái hedge fund khác nhau ở thời điểm đấy, mỗi cái lại áp dụng một chiến lược khác nhau. Các quỹ đang lãi khoảng 40 – 85% vào thời điểm tao đổi sang bearish. Quỹ ngon nhất có lẽ là Dreyfus Strategic Aggressive Investing Fund, tăng khoảng 40% trong quý II (quý đầu tiên nó đi vào hoạt động, vãi lúa). Chắc chắn đấy là một năm tuyệt với tính tới thời điểm đó.
Rất nhiều thằng quản lý quỹ sẽ hiện thực hóa lợi nhuận khi bọn nó tăng nhiều đến mức như vậy vào trong đầu năm. Triết lý của tao, được khích lệ bởi Soros, lại là khi mà mày đã kiếm đủ nhiều để được phép đánh bạo tay, mày nên đánh bạo tay. Những năm mà mày kiếm được nhiều lúc đầu, mày nên đánh hung hăng đến cùng. Bởi vì tao kiếm được khá ổn trước đó, tao cảm thấy rằng tao đủ khả năng để chống lại thị trường trong một thời gian. Tao biết là bull market sẽ phải chấm dứt, nhưng tao chỉ không biết bao giờ. Ngoài ra, do thấy thị trường đang được định giá quá cao, tao nghĩ rằng khi bò bị cắt cổ, kéo theo đó sẽ là một thảm kịch.
– Vậy hẳn là mày tiếp tục giữ vị thế short cho đến khi thị trường tạo đỉnh vài tháng sau đó?
Chuẩn luôn. Đến ngày 16 tháng Mười 1987, chỉ số Dow đã rớt xuống mức gần 2,200, sau khi tạo đỉnh ở 2,700. Tao gỡ lại được hết số lỗ từ vị thế short trước đó và quay lại hành trình lãi ngập mồm. Đấy chính là khi mà tao gây ra một trong những lỗi lầm đau đớn nhất trong suốt sự nghiệp trading của mình.
Đồ thị cho thấy có một ngưỡng hỗ trợ cực bền ở gần 2,200 dựa trên vùng giao dịch được tạo ra trong hầu hết năm 1986. Tao tin rằng thị trường sẽ được đỡ ở mức đó. Tao cũng đang ở một vị thế thuận lợi, bởi vì đã có lợi nhuận từ việc long rồi short trước đó. Tao quyết định sử dụng đòn bẩy, đổi sang 130% long.
– Mày đưa ra quyết định thay đổi đấy lúc nào?
Vào chiều thứ 6, ngày 16 tháng Mười 1987.
– Đảo từ bán khống ròng sang mua với đòn bẩy vào đúng ngày trước khi xảy ra vụ sụp đổ của thị trường? Mày giỡn chơi tao hả!
Đúng mới nhục. Hôm đấy thanh khoản rất tốt nên tao dễ dàng thay đổi vị thế của mình.
– Cũng không ngạc nhiên lắm vì vụ này, nhưng mà tao hơi khó hiểu. Mày thường nhắc là mày rất coi trọng việc sử dụng phân tích kỹ thuật. Ở thời điểm thị trường sắp rơi tự do như vậy, phân tích kỹ thuật chẳng giúp mày dự báo được gì?
Rất nhiều chỉ số cho thấy thị trường đang bị bán quá đà (oversold) ở thời điểm đó. Hơn nữa, tao nghĩ rằng vùng hỗ trợ 2,200 là vùng đỡ giá cực mạnh, ít nhất là tạm thời. Tao cho rằng ngay cả khi tao sai toét, thì thị trường cũng sẽ không rớt khỏi mức 2,200 vào sáng thứ Hai. Kế hoạch của tao là giữ vị thế mua trong vòng 30 phút đầu mở cửa sáng thứ Hai, và té ngay (bọn này ko bị dính T+3 nên rất linh hoạt, chứ chơi ở VN vừa mua mà gặp bầu Kiên bị bắt thì Stanley cũng mất xác luôn nhé) nếu thị trường thất bại trong việc bật lại.– Lúc nào thì mày nhận thấgy là mình sai?
Chiều thứ Sáu hôm đấy sau giờ đóng cửa, tao tình cờ nói chuyện với Soros. Ông ấy bảo muốn cho tao xem một bản nghiên cứu của Paul Tudor Jones làm. Tao chạy tới chỗ Soros và được xem bản phân tích của Paul làm khoảng 1, 2 tháng trước đó. Bản nghiên cứu cho thấy trong lịch sử thị trường chứng khoán có xu hướng tăng tốc về phía downside bất cứ khi nào một đường cong parabolic hướng dốc lên bị gẫy, giống như đã xảy ra gần thời điểm đấy. Bản phân tích cũng minh họa sự tương đồng kỳ lạ về sự biến đổi của giá giữa thị trường năm 1987 và giá thị trường ở cuộc đại khủng hoảng 1929, với một kết luận tuyệt đối rằng lúc đấy chúng ta đang ở trên bờ vực của cuộc sụp đổ. Mồm miệng tao đắng ngắt khi trở về nhà tối hôm đấy. Tao nhận ra rằng tao vừa lỡ bước chân lên tàu TITANIC.
– Có phải mỗi báo cáo nghiên cứu của Paul Tudor Jones đã làm cho mày nhận ra là mày sai?
Thực thà là còn một yếu tố quan trọng nữa ở vụ này. Vào đầu tháng Tám năm đấy, tao nhận được một cú điện thoại từ một gái sắp đi nghỉ hè ở Pháp. Nàng bảo, “Anh trai em cho rằng thị trường sắp tung tóe tùm lum. Mà em thì sắp đi chơi 3 tuần. Anh có nghĩ là thị trường vẫn ổn cho đến khi em về không?”
Tỏ vẻ nguy hiểm, tao trả lời, “Ờ thị trường có khả năng rớt đấy, nhưng mà anh không nghĩ nó sẽ rớt nhanh vậy đâu. Em cứ tha hồ xõa đi, đừng có lo.”
“Anh có biết anh trai em là ai không?”
“Chịu.”
“Anh ấy là Jack Dreyfus.”
Thời điểm đó theo như tao biết thì Dreyfus đang bận điều hành một tổ chức về y tế và không bận tâm nhiều đến thị trường trong suốt 15 hoặc 20 năm qua. Tuần sau đó, Howard Stein đưa một vị khách tới văn phòng tao, giới thiệu “Đây là Jack Dreyfus”.
Dreyfus mặc một chiếc áo len cardigan và nói chuyện rất nhã nhặn “Tao muốn được hướng dẫn về các hợp đồng future S&P. Mày biết đấy, tao chẳng ngó ngàng gì đến thị trường suốt 20 năm qua. Tuy nhiên, tao rất chú ý đến các câu chuyện mà tao được nghe gần đây khi chơi bài bridge. Thằng đếch nào cũng khoe rùm beng lên về việc nó kiếm được bao nhiêu tiền trên thị trường. Nó làm tao nhớ đến những thứ tao đã đọc được về vụ 1929.”
Dreyfus đang tìm kiếm những bằng chứng về mua margin để xác nhận giả định của hắn là thị trường đang có nguy cơ sụp đổ giống vụ 1929. Các số liệu thống kê về thị trường cổ phiếu không chỉ ra sự tăng đột biến trong mua margin. Tuy nhiên, hắn đọc được ở đâu đó nói rằng người ta đang sử dụng các hợp đồng future S&P để tạo ra vị thế mua trên thị trường chứng khoán với mức margin 10%. Giả thuyết của hắn là các hoạt động mua margin giờ đây đã chuyển vào future. Để kiểm tra cái lập luận này, hắn muốn tao làm một bản nghiên cứu đánh giá xem liệu có sự đầu cơ đột biến nào trong việc mua hợp đồng future S&P hay không.
Bởi vì lúc đấy bọn tao không có sẵn data nên phải mất một thời gian sau tụi tao mới làm xong bản nghiên cứu đấy được. Rất lởm là bọn tao lại hoàn thành bản nghiên cứu vào chiều thứ Sáu 16/10/1987. Nói đơn giản, bản báo cáo chỉ ra đám đầu cơ vẫn short ròng cho đến tận tháng 7/1987 và sau đó đã đảo chiều sang mua cực mạnh.
Tao đến gặp Jack Dreyfus vào sáng thứ Bảy, ngày 17 tháng Mười để chỉ cho hắn kết quả phân tích. Nên nhớ là hắn đã bearish về thị trường kể từ tháng Tám. Lúc đấy, tao đang cực kỳ chán đời bởi vì bản phân tích của Paul Tudor Jones mà Soros cho xem hôm qua.
Dreyfus nhìn vào bản nghiên cứu vừa làm và bảo “Tao đoán giờ đã hơi muộn để phòng tránh những nỗi sợ hãi của tao.” Rõ ràng là vậy. Tao hoàn toàn tin tưởng rằng mình đang đi ngược hướng thị trường. Tao quyết định rằng nếu như thị trường mở cửa trên ngưỡng hỗ trợ vào sáng thứ Hai tới, khoảng 30 điểm thấp hơn so với giá đóng cửa của Dow hôm thứ Sáu tuần đó, và không tăng lập tức, tao sẽ bán sạch sẽ danh mục của mình.
Đến thứ Hai, thị trường mở cửa ở mức 200 điểm thấp hơn. Tao biết mình phải thoát hàng ngay lập tức. Thật may là sau đấy có một cú hồi nhỏ sau giờ mở cửa giúp tao có thể bán sạch vị thế mua của mình rồi ngay lập tức quay đầu sang bán khống.
Chiều hôm đấy, khoảng 3h45 Dreyfus mò đến chỗ tao. Hắn bảo:
“Xin lỗi vì tao không kể với mày trước, nhưng tao đã bán khống đủ lượng S&P để hedge các rủi ro của mình trên thị trường chứng khoán.”
“Oạch, mày bán cỡ bao nhiêu?”
“Đủ xài.”
“Mày bán từ khi nào?”
“À, khoảng 2 tháng trước.” Nói cách khác, hắn bán chính xác ở đúng đỉnh, ở tầm thời điểm mà tao chém với em gái hắn là không cần phải lo về việc thị trường tụt. Hắn hỏi “Mày nghĩ là tao có nên cover vị thế của mình bây giờ không?”
Lúc đấy, mặc dù Dow mới chỉ tụt khoảng 500 điểm xuống gần 1,700 nhưng các hợp đồng future đang giao dịch ở mức giá tương đương với Dow tầm 1,300. Tao hét, “Jack, mày phải cover vị thế luôn bây giờ đi. S&P future đang được giao dịch ở mức discount tầm 4 – 500 điểm so với Dow!” Hắn nhướn mắt nhìn tao và hỏi “Discount là cái đếch gì đấy?”
– Vậy Jack có cover vị thế của nó lúc đó không?
Có chứ! Hắn cover đúng phóc luôn ở đáy.
– Quay lại với chủ đề sự nghiệp của mày, tại sao mày lại rời Dreyfus?
Tao thấy quá tải bởi vì tao đang phải quản lý quá nhiều quỹ (07 cái ở thời điểm tao rời đi, vl). Bên cạnh việc điều hành hoạt động đầu tư, mỗi quỹ còn đòi hỏi tao phải trao đổi cũng như tham gia các hoạt động khác. Ví dụ như mỗi quỹ có 4 cuộc họp ban quản trị vào một năm.
– Mày lấy đếch đâu ra thời gian để mà làm mấy việc vớ vẩn đấy nhỉ?
Tao chịu, vậy nên tao mới té. Trong thời gian tạm nghỉ, tao cũng trao đổi với Soros về các thứ đang diễn ra. Nói chuyện nhiều với Soros, tao bắt đầu nhận ra những điều giang hồ kể về ông ấy là sai toét.
– Bọn nó kể gì với mày?
Chủ yếu về chuyện ở chỗ của Soros. George nổi tiếng là trả nhân viên rất đậm nhưng sau đó sa thải bất thình lình. Bất cứ khi nào tao đề cập đến việc Soros muốn rủ tao về làm là mấy đại ca của tao lại khuyên tao không nên dính đến ông ấy.
Thực tế Soros bắt đầu giới thiệu tao là “người kế nhiệm” từ trước khi tao gia nhập quỹ. Khi tao đến nhà Soros để phỏng vấn, con trai ông ấy thông báo cho tao biết rằng tao chính là “người kế nhiệm” thứ mười mà nó biết. Chẳng thằng nào trong 9 thằng trước đó tồn tại lâu. Và thằng ku đấy nghĩ là điều này thật rồ dại. Khi tao đến văn phòng của Soros hôm kế tiếp, cả đám nhân viên đều đùa cợt gọi tao là “người kế nhiệm.” Bọn nó nghĩ rằng gọi như vậy rất funny.
Tháng Năm 1987, Soros công bố The Alchemy of Finance như một cuốn nhật ký kể lại suy nghĩ và hành động đầu cơ giai đoạn trước đó của mình. Cuốn sách được rất nhiều ngôi sao mới nổi trong ngành nghiên cứu và thần tượng. Khi tái bản đợt sau, Paul Tudor Jones, diễn viên chính của vụ Black Monday đã viết lời đề tựa cho cuốn sách như này: “Soros, liệu hồn đấy!”. Lời đề tựa trên dựa trên cảm hứng từ bộ film về Thế chiến thứ Hai có tên là Patton, trong đó tướng Patton của Mỹ đã đánh bại tướng Erwin Rommel nhờ nghiên cứu kỹ lưỡng các bài viết về chiến thuật do Rommel viết ra. Trong giây phút chiến thắng, Patton đã hạnh phúc thốt lên: “Rommel, thằng khốn khiếp siêu đẳng. Anh đã thuộc lòng sách của mày!”. Stanley cũng hâm mộ Soros chẳng kém gì Paul Tudor Jones.
Trên trang bìa của tạp chí Fortune ngày 28/9/1987 có một tựa đề “Liệu giá cổ phiếu đang quá cao?” khi mà một thị trường tăng giá kể từ đầu thập kỷ 80 đã giúp các cổ phiếu ở trong S&P 400 thời đó được giao dịch với giá trung bình gấp ba lần book value, mức cao nhất kể từ Thế chiến thứ Hai. Tạp chí Fortune mời Soros làm chuyên gia nhận định về vụ này, và Soros tỏ ra khá lạc quan. Theo Soros, việc thị trường được định giá overvalued không có nghĩa là nó thiếu ổn định. Soros chỉ sang Nhật, nơi mà thị trường bị overvalued cao hơn so với thị trường US cực nhiều và lập luận rằng nếu có một cuộc khủng hoảng xảy ra, hẳn nó sẽ giáng vào Tokyo trước rồi mới đến Wall Street.
Soros không phải là người duy nhất bullish. Tuần sau đó Salomon Brothers tung ra một báo cáo nhận định rằng bull market sẽ tiếp tục kéo dài đến 1988. Và tuần sau nữa, Byron Wien, một chuyên gia chiến lược nổi tiếng của Morgan Stanley và là bạn của Soros dự đoán thị trường sẽ lập một đỉnh cao hơn nữa rồi chu kỳ tăng giá này mới kết thúc. Đây là thời kỳ hoàng kim của các vụ leveraged buyout (LBOs). Bọn takeovers đầy tiền đi vay trong túi sẵn sàng đẩy giá cổ phiếu lên các mức cao hơn. Hoạt động của lũ chuyên gia mua bán doanh nghiệp phơi bày tràn ngập trên báo chí. Sự điên rồ của thị trường được phác họa bởi hình ảnh của một chuyên gia tài chính trước đó không ai biết tên là P. David Herrlinger tuyên bố sẵn sàng bỏ ra 6.8 tỷ USD để mua cổ phiếu của công ty Dayton Hudson. Và sau đó báo chí tràn ngập tin về vụ này, dẫn đến cổ phiếu của công ty trên tăng vọt lên trời. Tuy nhiên, rốt cuộc đây chỉ là một tuyên bố lăng nhăng, và Herlinger sau đấy bị tống cổ vào viện tâm thần.
Vào ngày 5/10/1987, Soros mời Stanley đến văn phòng mình. Stanley trước đó đã đọc Alchemy và bày tỏ mong muốn được gặp mặt Soros. Đến lúc gặp nhau là yêu luôn. Soros dụ dỗ Stanley về làm quản lý cho mình để tập trung vào triết học và từ thiện. Stanley từ chối lời mời này, nhưng kể từ đó cũng chơi với Soros gắn bó hơn. Mặc dù có rất nhiều quan điểm chung về đầu tư nhưng khi đấy Soros và Stanley đang có các vị thế trái ngược nhau. Stanley dự đoán thị trường sắp nổ nên đang short Wall Street; Quantum thì đánh arbitrage bằng cách short Tokyo và mua thị trường Mỹ. Nhờ đánh theo cơn điên của thị trường, Quantum đang tăng 60% vào cuối tháng 9. Mọi thứ đang diễn ra tuyệt vời với Soros…Ngày 14/10/1987, Soros đăng một bài báo trên Financial Times tái xác nhận quan điểm là vụ sụp đổ sẽ xuất phát từ Tokyo. Buổi sáng thứ Tư hôm đó, Soros đến trường Harvard’s Kennedy Schoold để thuyết trình về lý thuyết bong bóng – nổ vỡ của mình. Sau khi hoàn thành bài thuyết trình, Soros giật mình nhận ra Wall Street vừa bị bán tháo. Báo chí đăng tin Quốc hội có thể tăng thuế với các hoạt động mua bán sát nhập doanh nghiệp, một hành động có thể làm câm lặng một động cơ của thị trường tăng giá. Chỉ số Dow Jones giảm 3,8% hôm đó, một mức lẽ ra phải làm Soros chú ý. Soros biết rằng thị trường hiện đang ở quá xa điểm cân bằng; cũng như nhận thức được việc sau bong bóng sẽ là một cú nổ vỡ mạnh. Sau này Soros thú nhận, “Thời điểm lẽ ra tao phải đang ở trong trụ sở và tìm cách nhảy ra ngoài thị trường.” Một sai lầm LỚN!
Đến ngày thứ Năm cổ phiếu tiếp tục rớt. Và sang ngày thứ Sáu thị trường lại tuột dốc thẳng đứng. Sau khi thị trường đóng cửa ngày hôm đó, Stanley phi qua thăm Soros. Ba ngày liên tiếp bị bán tháo đã thuyết phục Druckenmiller đây là một cơ hội tốt để mua trong hoảng loạn khi giá tụt về điểm kháng cự có nhiều khả năng bật lên. Chiều thứ Sáu hôm đó, Stanley đã đổi từ vị thế short sang mua ròng. Soros lắng nghe quan điểm của Stanley và đưa cho hắn đống chart mà Paul Tudor Jones đã nghiên cứu. Tiếp đó câu chuyện diễn biến như chúng ta đã biết… Stanley đi gặp Jack Dreyfus… blah blah…
Ngày thứ Hai đen tối, bằng việc ngay lập tức đảo ngược vị thế của mình, Stanley đã thoát được cú bổ nhào một cách ngoạn mục, nhưng chuyện này lại không diễn ra êm đẹp với Soros. Soros đã nỗ lực hết sức để chạy hàng nhưng do vị thế của Soros lớn hơn; và đống cổ phiếu hàng nóng ăn theo các vụ LBO mà Soros cầm thời điểm đó rất khó để bán khi thị trường hoảng loạn. Đến tầm trưa, khi Stanley đã hoàn thành việc đảo ngược vị thế sang bán khống thì Soros vẫn đang tìm cách bán trong tuyệt vọng, do thị trường đã rơi vào tình trạng chết lặng. Một nữ nhân viên ở Wall Street nhớ lại “Mọi người không thể tin được là cổ phiếu của mình có thể rơi kinh hoàng như vậy”. Để tự trấn an mình, cô ta phải nhìn ra ngoài cửa sổ theo dõi một quầy bán hot dog. Miễn là hot dog còn đang được bán, thế giới chưa bị sụp đổ.
Tối thứ Hai, Soros ngồi đánh giá lại tình hình. Wall Street đấm Soros vỡ mặt, nhưng vị thế short của Soros ở Nhật cũng làm dịu vết thương đi nhiều do Nikkei cũng tụt mạnh. Có những lời đồn rằng vụ sụp đổ bất ngờ ở New York chỉ là một hậu quả gây ra bởi một công cụ có tên là “bảo hiểm danh mục đầu tư”. Nếu như điều này đúng, đây là một thông điệp rõ ràng với Soros: thị trường sụp đổ do bị kích phát từ các chương trình trading chứ không phải do các yếu tố cơ bản và do đó nó sẽ sớm điều chỉnh lại. Có lẽ sắp có một đợi tăng giá mới.
Sáng thứ Ba, đúng như dự kiến của Soros, thị trường tăng lại. Soros nhanh chóng quay lại múc. Tuy vậy vị thế short của Soros ở Nhật lại đen đủi một cách bất thường. Trước đó Soros short Nikkei index thông qua các hợp đồng futures ở Hong Kong, nơi mà thị trường thanh khoản tốt hơn. Nhưng khi xảy ra vụ sụp đổ ngày thứ Hai đen tối, bọn sếp sòng ở sàn future Hong Kong quyết định giảm thua lỗ bằng cách tạm đóng cửa sàn. Do đó khi Wall Street tăng trong ngày thứ Ba, dẫn đến khả năng tăng vào ngày kế tiếp ở Nhật, Soros không thể thoát được vị thế của mình. Sang thứ Tư, Nikkei tăng vọt lên 9.3%, mức tăng cao nhất trong một ngày kể từ 1949. Soros chỉ biết câm lặng chịu đòn.
Chỉ vài phút trước khi sàn New York đóng cửa vào ngày thứ Tư, Soros lại nói chuyện với Druckenmiller. Dow Jones đã tăng mạnh hai ngày, và Druckenmiller nghĩ rằng một bước ngoặt nữa sắp đến. Stanley đã nghiên cứu lịch sử các vụ sụp đổ, và hắn thấy một pattern: một cú sụp đổ trong thị trường thường sau đó được nối tiếp bằng hai ngày tăng mạnh, nhưng sau đó thị trường sẽ lại sụp đổ về mức đáy trước đó. Chiều thứ Tư hôm đó, Druckenmiller báo với Soros rằng hắn lại short.
Soros không bị thuyết phục bởi ý kiến này, và bỏ lơ qua ý kiến của mấy thằng đệ. Soros cho rằng ngày thứ Hai đen tối chỉ là một sự hoảng loạn thái quá. Đó chỉ là một ác mộng gây ra bởi hoạt động “bảo hiểm danh mục đầu tư”.
Druckenmiller thường dậy sớm, và sáng thứ Năm hắn dậy với một tâm trạng lo lắng. Thị trường đóng cửa khá mạnh ở phiên trước đó, và Soros có thể đúng khi cho rằng việc quan sát diễn biến lịch sử của giá không đem lại nhiều tác dụng lần này do tác động bất thường của bảo hiểm danh mục đầu tư. Nhưng khi hắn kiểm tra các biến động ở London, Stanley thấy cổ phiếu đang bị thảm sát. Nếu như New York bị tác động bởi London, vị thế short của Druckenmiller sẽ ăn đẹp và Soros sẽ gặp nhiều rắc rối.
Khoảng 8h sáng, Druckenmiller nhận được một cú điện thoại từ bộ phận giao dịch future của Salomon Brothers. Bên môi giới báo “Vừa xuất hiện một con voi trên thị trường và futures có thể mở cửa dưới 200 điểm”. Future đóng cửa ở mức 258 điểm đêm trước đó, và một có rớt mạnh xuống dưới 200, dưới áp lực bán của một con voi, sẽ giúp chỉ số tụt đến gần 25%. Druckenmiller ngay lập tức phản ứng bằng cách đặt lệnh đóng vị thế short nếu các hợp đồng future tụt xuống mức 195 để hiện thực hóa lợi nhuận do ở đây là một ngưỡng hỗ trợ cứng.
Thị trường mở cửa và con voi phi đến. Chỉ số future tụt xuống dưới 200 và lệnh của Druckenmiller được khớp, giúp hắn kiếm được gần 25% chỉ trong một đêm. Khoảng 10 sáng hôm đấy, khi con voi đã ngừng bán tháo và thị trường ổn định trở lại, Druckenmiller nghĩ rằng đã đến lúc tiếp tục đảo vị thế. Nghĩ đến cuộc thảo luận chiều hôm trước, Druckenmiller nhấc điện thoại gọi Soros.
“Hey George, em chỉ muốn báo cáo bác biết là tối qua em đã rất bearish. Nhưng bây giờ em lại nghĩ có lẽ đây là đáy rồi. Có một thằng điên nào đó vừa bán tống, bán tháo điên cuồng. Có vẻ như là nó cực kỳ hoảng loạn.”
Soros lắng nghe bình tĩnh và trả lời “Bây giờ anh mày vẫn đang phải *** láp các vết thương của mình đây. Tao sẽ trở lại và chiến đấu vào lần khác.”
Không cần phải đến cuối tuần đó Druckenmiller mới nhận ra điều gì đã xảy ra. Khi chỉ lát sau hắn nhận được tờ báo mới nhất của Barron và đọc được tin con voi trên thị trường chẳng ai khác mà chính là Soros…

Em thích đoạn này:

“Giống như lý do người ta cử bọn lính 18 tuổi ra trận thôi.”
“Ý mày là sao?”
“Bởi vì bọn nó quá ngu để biết trốn tránh trách nhiệm.”
 
 
  • Like
Reactions: Ray

BÌNH LUẬN MỚI NHẤT

✖
AdBlock Detected

We get it, advertisements are annoying!

Sure, ad-blocking software does a great job at blocking ads, but it also blocks useful features of our website. For the best site experience please disable your AdBlocker.

Back
Bên trên

Miễn trừ trách nhiệm

Tất cả nội dung trên website này đều vì mục đích cung cấp thông tin và không phải lời khuyên đầu tư.

Tại Việt Nam, giao dịch CFD forex có các rủi ro nhất định, trong đó bao gồm rủi ro về pháp lý. Độc giả nên tìm hiểu kỹ trước khi đưa ra quyết định tham gia.